Cơ hội và tiềm năng về viễn thông chưa được khai thác?

Thứ hai, 04/05/2015 10:08

Phát minh ra thông tin đã là một quá trình khó khăn nhưng việc truyền tải thông tin cũng không dễ, các thông điệp muốn truyền qua biên giới đều bị giữ lại để xử lý trước khi được chuyển tiếp sang nước láng giềng. Trong bối cảnh mà một thỏa thuận chung cần được thiết lập và những tiêu chuẩn chung cần được áp dụng, Liên minh Viễn thông quốc tế được hình thành, từ Liên minh Điện tín Quốc tế (1865) đến Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) ngày nay.

img

Với mục tiêu kết nối các nước trong lĩnh vực VT và CNTT, Liên minh Viễn thông Quốc tế là một Tổ chức Liên chính phủ và phi lợi nhuận. Tính đến nay, ITU đã có tới 193 Quốc gia Thành viên chính thức và hơn 700 Thành viên Lĩnh vực, gồm các doanh nghiệp, học viện và tổ chức xã hội.

Liên minh ITU hoạt động với mục tiêu giữ vững và tăng cường quan hệ quốc tế nhằm hoàn thiện và sử dụng viễn thông một cách có hiệu quả nhất, phân bổ và quản lý tần số cũng như các vị trí quỹ đạo vệ tinh, xây dựng tiêu chuẩn viễn thông thế giới, khuyến khích và trợ giúp kỹ thuật cũng như các nguồn tài chính cho các nước đang phát triển, khuyến khích sử dụng dịch vụ viễn thông và tăng cường mở rộng đến công chúng để đạt được các mục đích phát triển, thống nhất toàn cầu để sử dụng các dịch vụ viễn thông trong việc cứu hộ cứu nạn.

Để đáp ứng nhu cầu hiện nay của các Quốc gia Thành viên với đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của mình, một cơ cấu ITU đã được xây dựng qua nhiều giai đoạn khác nhau và đạt đến một cơ cấu phù hợp nhất ngày nay.
 


anh2.jpg



Trong cơ cấu này, Hội nghị toàn quyền (Plenipotenciary Conference) là cơ quan quyền lực cao nhất của ITU nhưng chỉ được triệu tập trong một thời gian nhất định (hiện là 4 năm 1 lần) để đánh giá và đề ra phương hướng hoạt động cho Liên minh trong nhiệm kỳ tới.

 Hội đồng điều hành (council) là cơ quan thay mặt Hội nghị Toàn quyền điều hành các hoạt động của Liên minh trong thời gian giữa 2 Hội nghị Toàn quyền.

 Để giải quyết các vấn đề chuyên môn, Liên minh được phân ra 3 Lĩnh vực chính:

Lĩnh vực Thông tin vô tuyến (Radiocommunication Sector): chịu trách nhiệm thực thi các mục tiêu của Liên minh liên quan đến thông tin vô tuyến, cụ thể là việc bảo đảm sử dụng hợp lý, công bằng, có hiệu quả và tiết kiệm phổ tần số vô tuyến điện và quĩ đạo vệ tinh.
 Lĩnh vực này hoạt động thông qua các Hội nghị thông tin vô tuyến thế giới và khu vực, các khoá họp thông tin vô tuyến, Uỷ ban Thể lệ thông tin vô tuyến, Nhóm tư vấn và khoảng 15 Nhóm nghiên cứu (tuỳ theo giai đoạn). Cục Thông tin vô tuyến (Radiocommunication Bureau) là cơ quan thường trực quản lý các hoạt động trong Lĩnh vực này.

Lĩnh vực Tiêu chuẩn hoá Viễn thông (Telecommunication Standardization Bureau): chịu trách nhiệm thực thi các mục tiêu của Liên minh liên quan đến tiêu chuẩn viễn thông, chủ yếu bằng cách nghiên cứu các vấn đề kỹ thuật, khai thác và cước phí.
 Lĩnh vực Tiêu chuẩn hoá Viễn thông hoạt động thông qua các khoá họp tiêu chuẩn hoá viễn thông thế giới, Nhóm tư vấn và cũng khoảng 15 Nhóm nghiên cứu. Cục Tiêu chuẩn hoá viễn thông (Telecommunication Standardization Bureau) là cơ quan thường trực quản lý các hoạt động về tiêu chuẩn hoá viễn thông trong ITU.

Lĩnh vực Phát triển viễn thông (Telecommunication Development Sector). chịu trách nhiệm thực thi các mục tiêu của Liên minh liên quan đến vấn đề phát triển viễn thông. Đặc biệt, trong phạm vi thẩm quyền riêng của mình, Lĩnh vực Phát triển viễn thông chịu trách nhiệm kép của Liên minh với tư cách vừa là một cơ quan của ITU vừa là tổ chức chuyên ngành của Liên hợp quốc thực thi các đề án trong khuôn khổ Chương trình phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) hoặc những đề án có trợ giúp tài chính khác.
 Lĩnh vực Phát triển viễn thông hoạt động thông qua các Hội nghị Phát triển viễn thông thế giới (4 năm một lần) và khu vực, Nhóm tư vấn Phát triển viễn thông (TDAG) và 2 Nhóm nghiên cứu chính sách và chuyên môn. Cục Phát triển viễn thông (Telecommunication Development Bureau) là cơ quan thường trực quản lý các hoạt động này.

Văn phòng Liên minh (General Secretariat):  đặt dưới quyền điều hành của Tổng thư ký ITU nhằm điều phối các hoạt động của Liên minh, chuẩn bị báo cáo về chính sách và kế hoạch chiến lược của Liên minh, việc triển khai kế hoạch ITU, đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả kinh tế các nguồn lực của Liên minh và chịu trách nhiệm về các mặt hành chính, tài chính của Liên minh.

Giữ vai trò kết nối các nước trong lĩnh vực VT và CNTT cùng với nguồn lực dồi dào của mình, ITU đã không ngừng nghiên cứu đưa ra những chính sách phát triển, quản lý viễn thong những nghiên cứu chuyên môn cũng như tạo ra môi trường thuận lợi để trao đổi kinh nghiệm. Kho tang kiến thức đó đã và đang được nhiều nước, doanh nghiệp nghiên cứu, áp dụng, đặc biệt là các nước đang phát triển.
Vậy, Việt Nam đã tận dụng và khai thác thế nào về các nguồn kiến thức đó?

Từ sau 1975, Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là đại diện hợp pháp duy nhất của nước Việt Nam thống nhất tham gia vào Liên minh Viễn thông quốc tế. Được Chính phủ ủy quyền, Ngành viễn thông tích cự tham gia nhằm để xây dựng quan hệ khai thác nghiệp vụ thông qua những Hiệp định/Qui định đa phương về tiêu chuẩn và định mức. Những Hiệp định đa phương này qui định các tiêu chuẩn, thể lệ khai thác, thanh toán quốc tế, băng tần sử dụng cho các loại dịch vụ,...mà dựa trên những điều khoản đó, các nước tham gia Hiệp định có thể hợp tác với nhau để cùng khai thác các dịch vụ viễn thông.

Về khía cạnh chính trị, năm 1982, Việt Nam tham gia Hội nghị toàn quyền ở Nairobi (Kenya), ký Công ước đồng thời đưa ra tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ đối với Quần đảo Trường Sa va Hoàng Sa của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, Việt Nam vẫn bảo lưu ý kiến khi ký các Văn kiện của ITU.

Về khía cạnh quản lý chuyên ngành, Việt Nam đã đấu tranh đòi lại sự phân bổ sai trái tần số bay tại Biễn đông (vùng 6E, 6F và 6G thuộc Quần đảo Trường Sa).Trong thời gần đây, Ngành VT Việt Nam đã và đang đấu tranh, bảo vệ việc phân bổ, ấn định tần số cho các vệ tinh, cho giao thông hang hải có nguy cơ ảnh hưởng đến biên giới, hải đảo của Việt Nam ở biễn đông. Trong lĩnh vực dịch vụ, năm 1988, Việt Nam đã ký thông qua Thể lệ viễn thông quốc tế - một văn bản qui định về cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế, thanh toán cước,…Năm 2012, Việt Nam tham gia Hội nghị thế giới về viễn thông quốc tế lần 2, có nhiều đề xuất sửa đổi Thể lệ viễn thông quốc tế cho phù hợp với việc cung cấp dịch vụ viễn thông quốc tế, thanh toán cước,…hiện nay.



anh1.jpg



Trong lĩnh vực kinh doanh, ITU đã có những hỗ trợ tư vấn, đặc biệt sự tư vấn “bỏ qua kỹ thuật tương tự, đi thẳng vào kỹ thuật số” vào cuối những năm 90 góp phần giúp VN “đi tắt, đón đầu”. Cũng nhờ tham gia và áp dụng những qui định của Công ước ITU về Viễn thông, Việt Nam vẫn đảm bảo lien lạc viễn thông với các nước, kể cả Mỹ trong thời gian Mỹ cấm vận Việt Nam, bảo đảm nguồn thu chính để tái đầu tư của lĩnh vực viễn thông trong những năm đầu phát triển.

Để mở rộng truyền thong, Việt Nam đã đăng ký thành công 02 vị trí quỹ đạo cho việc phóng vệ tinh riêng của mình phục vụ công tác thông tin tuyên truyền cả nước. Bộ tiêu chuẩn của ITU (hơn 1000 tiêu chuẩn đủ loại) là một cơ sở để Ngành Viễn thông Việt nam ban hành các tiêu chuẩn phù hợp với điều kiện Việt Nam và cũng là cơ sở để đánh giá các thiết bị, phụ tùng nhập ngoại.

Về khía cạnh kinh tế, vào đầu những năm 90 khi Viễn thông Việt Nam phát triển, đi lên từ số không, Ngành VT đã được Liên minh hỗ trợ tư vấn về chính sách, chiến lược, cước phí và quản lý viến thông. Nhiều đề án đã được ITU hỗ trợ cho sự phát triển non yếu đó từ chính ITU và từ vai trò đại diện cho LHQ về viễn thông và CNTT như dự án VIE 85/019 về việc củng cố và trang bị mạng thông tin chống bão lụt cho tỉnh Bình Trị Thiên với số vốn trị giá 520000USD; dự án VIE 86/047 về nâng cấp phòng thí nghiệm kỹ thuật số cho Viện Khoa học Kỹ thuật Bưu điện với số vốn do UNDP cấp là 700000USD; dự án VIE 89/006 về xây dựng kế hoạch tổng thể mạng viễn thông Việt Nam với tổng số vốn do UNDP cấp là 580000 USD. ITU còn hỗ trợ vốn và chuyên gia xây dựng thí điểm các đề án phát triển viễn thông nông thôn, các Cộng đồng viễn thông đa mục tiêu tại các tỉnh Đắc Lắc, Bắc Giang và Bắc Ninh.

Về khía cạnh đào tạo, tư vấn, ITU đã cử nhiều chuyên gia giúp Việt Nam về tư vấn lập kế hoạch và chính sách viễn thông, hỗ trợ tư vấn xây dựng 2 bộ Luạt lớn là Luật Tần số VTĐ và Luật Viễn thông. Trong công cuộc phát triển viễn thông, nguồn lực là một nhu cầu không thể thiếu. Nhiều cán bộ của Việt Nam đã được ITU cấp học bổng cử đi tham quan, thực tập và học tập ở các nước để nâng cao trình độ nghiệp vụ về quản lý, kỹ thuật và kỹ năng khai thác, tham gia nhiều hội thảo chia xẻ kinh nghiệm và khảo sát thực tiễn mạng viễn thông các nước khác.

Tham gia ITU, Việt Nam được nâng tầm quan hệ, củng cố vị thế của mình trên thế giới góp phần hội nhập. Các năm 1994, 1998 và 2002, Việt Nam tham gia các Hội nghị toàn quyền Kyoto (Nhật Bản), Minneapolis (Mỹ) và Marrakesh (Ma rốc) và được bầu vào Hội đồng điều hành ITU trong 3 nhiệm kỳ lien tiếp: 1994-1998, 1999-2002, 2003-2006. Năm 2014, một ứng cử viên của Việt Nam lần đầu tiên được bầu vào Ủy ban Thể lệ Thông tin vô tuyến – cơ quan có trách nhiệm về ấn định và phân bổ tần số, là dịp để tham gia sâu hơn vào quản lý tài nguyên quý hiếm của thế giới.


Vậy, việc tham gia thực tế đã đến đâu, liệu có cần đẩy mạnh hơn nữa?

Theo đánh giá của một số chuyên gia và qua phân tích trên đây, việc tham gia các hoạt động của ITU đã phần nào đáp ứng nhu cầu của Ngành, phù hợp với tình hình kinh tế, tài chính và sự phát triển viễn thông hiện nay. Việt Nam đã từng bước nâng tầm ảnh hưởng trong ITU nói riêng và trên thế giới nói chung, từ việc tiếp cận các khoản viện trợ, tư vấn đã bước sang giai đoạn tiếp cận, làm chủ điều, đóng góp điều hành về viễn thong thế giới.

Tuy nhiên, so với các nước khác có mức kinh tế cao hơn và căn cứ vào tình hình phát triển của Việt Nam hiện nay, sự tham gia chỉ mới huy động ở khía cạnh Ngành, Quốc gia hoặc cơ quan, doanh nghiệp Nhà nước mà chưa huy động hết nguồn lực và chưa khai thác hết những tư liệu của ITU.

Việc tham gia đối với các doanh nghiệp là cơ hội gặp gỡ, nắm bắt thị trường, trao đổi kinh nghiệm quản lý và kinh doanh, xây dựng áp dụng những qui định về cung cấp dịch vụ thông tin và truyền thông quốc tế,…Việc tham gia của các cơ quan nghiên cứu, giảng dạy để cập nhật thông tin, khai thác nguồn tư liệu mà các chuyên gia đã nghiên cứu. Mỗi cá nhân có những cơ hội tăng cường giao lưu, học hỏi chuyên ngành và ngoại ngữ cũng như phương thức làm việc để tự hoàn thiện bản thân. Có những sinh viên Việt Nam đã được ITU vinh danh và cấp học bổng nghiên cứu, những sinh viên khác khai thác tư liệu phục vụ việc học tập nhưng thực tế số lượng không nhiều, thậm chí còn quá ít.



anh4.jpg



Có thể có nhiều nguyên nhân với mỗi đối tượng như chính sách chưa đấp ứng, thông tin chưa đầy đủ và phổ cập, khó khăn về tài chính, nguồn lợi trước mắt và lâu dài khi tham gia,…nhưng rõ ràng là việc khai thác kho tài nguyên quí báu của ITU chưa được nhiều so với nguồn thông tin vô tận của ITU tại http://www.itu.int/en/pages/default.aspx .

Có phải do thiếu thông tin ngay trong thời đại bùng nổ truyền thông qua Internet ?

banner
icon

Cổng dịch vụ công
Quốc Gia

Những thông tin thủ tục hành chính
khai báo online tại đây

Xem chi tiết icon
icon

Chính sách
pháp luật Việt Nam

Cập nhật thông tin, chính sách
pháp luật Việt Nam

Xem chi tiết icon
icon

Giới thiệu
Sản phẩm dịch vụ

Nơi giới thiệu những sản phẩm,
dịch vụ tốt nhất dành cho bạn đọc

Xem chi tiết icon

Cổng thông tin điện tử của các đơn vị thuộc Bộ

Top