Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ sáu, ngày 16/11/2018

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Nguyễn Thị Dậu - Số 98 đường Hoàng Ngân, tổ 27, P. Trung Hòa, Q. Cầu Giấy, Tp. Hà Nội
daunt@vninvoice.vn

Công ty chúng tôi muốn gửi công văn tới Bộ Thông tin và Truyền thông hỏi về việc xác định hoạt động sản xuất kinh doanh của chúng tôi có phải là hoạt động sản xuất/ dịch vụ phần mềm hay là hoạt động cho thuê phần mềm. Chúng tôi có thể gửi công văn đến địa chỉ nào để được giải đáp, và thời gian thực hiện giải đáp của Bộ Thông tin và Truyền thông là bao nhiêu lâu.

 

- 1 ngày trước
Trả lời:

Trân trọng cảm ơn Quý bạn đọc đã gửi câu hỏi tới Bộ Thông tin và Truyền thông.

Liên quan đến nội dung câu hỏi, bạn đọc có thể gửi công văn đến Vụ Công nghệ thông tin để được giải đáp.

Vụ Công nghệ thông tin
Địa chỉ liên hệ: 18 Nguyễn Du - Hà Nội (Tòa nhà B, tầng 4)
Điện thoại: 024.39436404 Fax: 024.39436927
Độc giả: Nguyễn Thị Minh Ngọc - Khu công nghiệp Long Đức, xã Long Đức, TP. Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh
minhngoc.nguyenthi@mylangroup.com

Công ty tôi trước nay có nhập khẩu sản phẩm tính mini để dùng trong hệ thống tích hợp máy in phun công nghiệp do công ty sản xuất mà không cần phải xin giấy phép nhập khẩu.

Theo Thông tư 13/2018/TT - BTTTT (sắp có hiệu lực vào ngày 01/12/2018) thì máy tính mini có mã HS là 84714190 - thuộc nhóm khác trong Phụ lục 1 - Danh mục sản phẩm an toàn thông tin mạng phải nhập khẩu theo giấy phép.

Tuy nhiên, Công ty chúng tôi không phải là Doanh nghiệp kinh doanh trực tiếp máy tính mini đó mà kinh doanh cả hệ thống máy in phun công nghiệp có tích hợp máy tính mini, đồng thời cũng không phải là đối tượng được cấp giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng.

Vậy Công ty chúng tôi có thuộc  đối tượng áp dụng của Thông tư như tại Điều 2: "Thông tư này áp dụng đối với các doanh nghiệp đã được cấp Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng thực hiện hoạt động nhập khẩu sản phẩm an toàn thông tin mạng thuộc Danh mục." hay không? và chúng tôi có cần phải xin Giấy phép để nhập khẩu máy tính mini có mã HS là 84714190 nêu trên theo Thông tư 13/2018/TT-BTTTT hay không?

- 1 ngày trước
Trả lời:

Trân trọng cảm ơn Quý bạn đọc đã gửi câu hỏi tới Bộ Thông tin và Truyền thông. Liên quan đến nội dung câu hỏi, Cục An toàn thông tin - Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 3 Thông tư 13/2018/TT-BTTTT, Danh mục sản phẩm an toàn thông tin mạng nhập khẩu theo Giấy phép quy định tại Phụ lục 1, cụ thể chỉ áp dụng đối với các sản phẩm có mã HS: 8471.30.90, 8471.41.90, 8471.49.90, đồng thời có tính năng chính về an toàn thông tin như được mô tả trong Phụ lục 1. Điều này có nghĩa là cùng mã HS sản phẩm nhưng không có tính năng chính về an toàn thông tin như mô tả trong phụ lục 1 thì không thuộc điều chỉnh của Thông tư 13/2018/TT-BTTTT.

- Theo thông tin máy tính mini mà bạn cung cấp, thì máy tính mini đó khi nhập khẩu  không cần Giấy phép nhập khẩu quy định tại Thông tư số 13/2018/TT-BTTTT.​
Độc giả: Nguyễn Thành Nam - 106 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
thanhnam.001.84@gmail.com

Công ty chúng tôi muốn Quý Bộ giải đáp thắc mắc như sau:

Thủ tục nhập nhập khẩu mặt hàng máy in laser màu kỹ thuật số đã qua sử dụng để kinh doanh.

Căn cứ thông tư 31/2015/TT-BTTTT ngày 29/10/2015 hướng dẫn một số điều của nghị định số 187/2013/NĐ- CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của chính phủ đối với hoạt động xuất, nhập khẩu sản phẩm công nghệ thông tin (sau đây gọi tắt là CNTT) đã qua sử dụng thì mặt hàng máy in laser thuộc phụ lục I danh mục mặt hàng CNTT đã qua sử dụng cấm nhập khẩu.

Tuy nhiên, tại điểm c, khoản 2, điều 3 thông tư 31/2015/TT-BTTTT có quy định:

Điều 3. Nguyên tắc xây dựng và quy định áp dụng Danh mục cấm nhập khẩu

2. Các quy định áp dụng Danh mục cấm nhập khẩu

c) Đối với máy in, máy photocopy kỹ thuật số đa màu, khi nhập khẩu thực hiện quy định của pháp luật về in. Đối với máy photocopy kỹ thuật số đơn sắc (đen trắng) có kết hợp tính năng in hoặc kết hợp tính năng khác đã qua sử dụng, khi nhập khẩu thực hiện theo các quy định tại Thông tư này.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 1 và phụ lục I thông tư 41/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 16/2015/TT-BTTTT ngày 17 tháng 6 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định chi tiết thi hành nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2013 của chính phủ về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trong lĩnh vực in, phát hành xuất bản phẩm thì để nhập khẩu mặt hàng máy in laser màu kỹ thuật số đã qua sử dụng phải đáp ứng yêu cầu:

“Có giấy phép nhập khẩu đối với máy có tốc độ in trên 60 tờ (khổ A4)/phút hoặc có khổ in trên A3 và Được sản xuất không quá 07 năm tính từ năm sản xuất đến năm nhập khẩu”.

Theo cách hiểu của Công ty chúng tôi thì để nhập khẩu mặt hàng máy in laser màu đã qua sử dụng để kinh doanh thì Công ty chúng tôi chỉ cần phải xin giấy phép nhập khẩu thiết bị in theo quy định tại phụ lục I thông tư 41/2016/TT-BTTTT đã dẫn chiếu trên đây. Xin Quý Bộ trả lời:

1.  Cách hiểu như vậy có đúng không?

2.  Nếu chưa đúng thì xin Quý Bộ hướng dẫn chi tiết về thủ tục nhập khẩu nhập khẩu mặt hàng máy in laser màu kỹ thuật số đã qua sử dụng để kinh doanh.

- 2 ngày trước
Trả lời:

Trân trọng cảm ơn Quý bạn đọc đã gửi câu hỏi tới Bộ Thông tin và Truyền thông. Liên quan đến nội dung câu hỏi, Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau:

Máy in laser đã qua sử dụng được sản xuất không quá 7 năm (tính từ năm sản xuất đến thời điểm nhập khẩu), có tốc độ in trên 60 tờ (khổ A4)/phút hoặc có khổ in trên A3 thì phải làm thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu.
 

Thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu thực hiện theo Nghị định số 25/2018/NĐ-CP của Chính phủ.

Độc giả: Lê Thị Hải Thành - Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội
haithanh.bbhn@gmail.com

 Tôi có người nhà làm bên ngành in ấn nên tôi muốn hỏi một số ý như sau:

1. Theo Nghị định số 60/2014/NĐ-CP Điều 14 quy định đăng ký hoạt động cơ sở in, vậy tôi muốn hỏi là công ty của người nhà tôi chuyên in các vỏ hộp thuốc, hộp bánh kẹo thì có bắt buộc phải đăng ký hay không? nếu không đăng ký thì mức phạt là bao nhiêu? Cơ quan nào sẽ đi kiểm tra và phạt? 

2. Theo Nghị định số 25/2018/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP, trong điều 3 bãi bỏ một số quy định của Nghị định số 60 có bãi bỏ điểm d, khoản 1 trong điều 11 - Bỏ điều kiện cho cơ sở in về giấy an ninh - trật tự, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật; Vậy tại sao khi đăng ký hoạt động cơ sở in lại phải cung cấp giấy an ninh - trật tự trong khi Nghị định 25/2018 đã bỏ điều kiện cho ngành in.

 

- 2 ngày trước
Trả lời:

Trân trọng cảm ơn Quý bạn đọc đã gửi câu hỏi tới Bộ Thông tin và Truyền thông. Liên quan đến nội dung câu hỏi, Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau:

1. Việc in vỏ hộp thuốc, hộp bánh kẹo phải thực hiện đăng ký hoạt động cơ sở in (in bao bì được quy định tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ).
 
2. Cơ sở in khi đăng ký hoạt động in các sản phẩm quy định tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ (được sửa đổi bằng Nghị định số 25/2018/NĐ-CP) thì không phải cung cấp giấy chứng nhận an ninh - trật tự và bảo vệ môi trường (đã bỏ). Tuy nhiên, nếu cơ sở in in xuất bản phẩm (quy định tại Luật Xuất bản 2012) thì vẫn phải đáp ứng 2 điều kiện này và phải đề nghị cấp giấy phép hoạt động in.

 

Độc giả: Giang Thị Lệ Thủy - Khu phố 9, phường 5, Đông Hà, Quảng Trị
giangthilethuy@gmail.com

Tôi xin hỏi BBT vấn đề liên quan đến cấp phép tài liệu không kinh doanh. Khi Sở TTTT đã cấp phép và đơn vị được cấp phép đã in ấn xong, phát hành thì phát hiện ra nội dung bị sai sót. (vấn đề chính trị, nhạy cảm) Lỗi đó thuộc trách nhiệm về ai? Thuộc về đơn vị cấp phép hay đơn vị đến xin cấp phép? Có phải thu hồi ấn phẩm đã phát hành ra hay không? Và xử lý thì xử lý như thế nào đối với đơn vị đến xin cấp phép và đơn vị đã cấp phép là Sở TTTT?

- 2 ngày trước
Trả lời:

Trân trọng cảm ơn Quý bạn đọc đã gửi câu hỏi tới Bộ Thông tin và Truyền thông. Liên quan đến nội dung câu hỏi, Cục Xuất bản, In và Phát hành - Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau:

- Theo quy định tại điểm e, khoản 6, Điều 25 Luật Xuất bản trách nhiệm của cơ quan, tổ chức được cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh “Chịu trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu được xuất bản”.

Trường hợp phát hiện tài liệu không kinh doanh mà nội dung có dấu hiệu vi phạm pháp luật, căn cứ Điều 11 Luật Xuất bản, cơ quan chức năng có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá và kết luận có sai phạm về nội dung hay không và tùy theo tính chất, mức độ sẽ xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật.

Độc giả: Hoang Giang - Xuân Tảo, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
gianghoang278@gmail.com

Căn cứ vào Thông tư 04/2018/TT-BTTTT có quy định danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gấy mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông, Nghị định 74/2018/NĐ-CP và công văn 2765/BTTTT-CVT, các mặt hàng thuộc phụ lục I và II của Thông tư 04 đều phải thực hiện thủ tục đăng ký kiểm tra chất lượng trước khi thông quan hàng hóa. Doanh nghiệp sau khi thực hiện đăng ký và nộp mẫu lên Trung tâm đo kiểm, Trung tâm đo kiểm tiến hành đo theo các quy chuẩn, tiêu chuẩn như Thông tư 04/2018/TT-BTTTT quy định và trả kết quả cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp chúng tôi là doanh nghiệp chế xuất, mua hàng hóa có trong phụ lục của thông tư 04/2018/TT-BTTTT chỉ nhằm mục đích sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp, khi nhập khẩu:

- Trường hợp 1: Đối với phụ lục I của Thông tư 04/2018/TT-BTTTT: sau khi doanh nghiệp nhận được kết quả đo kiểm từ Trung tâm kiểm định, doanh nghiệp làm công văn xin chứng nhận hợp quy. Bản chứng nhận hợp quy này có thời hạn hiệu lực là 2 năm.

- Trường hợp 2: Đối với phụ lục II của Thông tư 04/2018/TT-BTTTT: sau khi doanh nghiệp nhận được kết quả đo kiểm từ Trung tâm kiểm định, doanh nghiệp làm bản tự đánh giá sự phù hợp về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia Khi doanh nghiệp nhập khẩu một mặt hàng có cùng tên gọi, công dụng, nhãn hiệu, kiểu loại, đặc tính kỹ thuật của cùng một cơ sở sản xuất, xuất xứ với lô hàng đã có kết quả đo kiểm đạt yêu cầu hoặc được cấp chứng nhận hợp quy theo quy định. + Doanh nghiệp có cần làm đăng ký kiểm tra chất lượng nữa không, hay dùng kết quả đo kiểm hoặc chứng nhận hợp quy của lô trước đó để thông quan hàng hóa luôn ? + Trong trường hợp phải làm đăng ký kiểm tra chất lượng, sau khi thông quan doanh nghiệp có cần tiến hành đo kiểm và làm lại chứng nhận hợp quy khác cũng cho hàng hóa đó không ? nếu không thì doanh nghiệp cần làm gì ?

- 4 ngày trước
Trả lời:

Trân trọng cảm ơn Quý bạn đọc đã gửi câu hỏi tới Bộ Thông tin và Truyền thông. Liên quan đến nội dung câu hỏi, Cục Viễn thông - Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời như sau:

a) Hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ TTTT quy định tại Thông tư số 04/2018/TT-BTTTT (bao gồm 02 danh mục: Danh mục sản phẩm, hàng hóa bắt buộc phải chứng nhận và công bố hợp quy (Phụ lục I) và Danh mục sản phẩm, hàng hóa bắt buộc phải công bố hợp quy (Phụ lục II)) phải thực hiện quy định về kiểm tra nhà nước về chất lượng theo Nghị định số 74/2018/NĐ-CP. Bộ Thông tin và Truyền thông có các văn bản hướng 2305/BTTTT-CVT và 2765/BTTTT-CVT để doanh nghiệp thực hiện.

b) Đối với từng danh mục của Thông tư 04/2018/TT-BTTTT thực hiện như sau:

-Sản phẩm thuộc Phụ lục I: 
 
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày thông quan, người nhập khẩu phải nộp cho cơ quan kiểm tra (Cục Viễn thông) Giấy chứng nhận hợp quy. Hồ sơ về chứng nhận hợp quy theo quy định tại Điều 14 Thông tư số 30/2011/TT-BTTTT. Hiện tại, giấy chứng nhận hợp quy có hiệu lực là 02 năm​.
 
- Sản phẩm thuộc Phụ lục II: 
 
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày thông quan, người nhập khẩu phải nộp cho cơ quan kiểm tra (Cục Viễn thông) kết quả tự đánh giá sự phù hợp theo quy định. Việc tự đánh giá của doanh nghiệp trên cơ sở kết quả đo kiểm của Phòng thử nghiệm được Bộ Thông tin và Truyền thông chỉ định, thừa nhận hoặc được công nhận (Thông tin được đăng tải đầy đủ trên website: mic.gov.vn); 
 
c) Nghị định 74/2018/NĐ-CP cũng quy định về:
 
- Sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 được miễn kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu (khoản 7 Điều 7 được sửa đổi);
 
Áp dụng biện pháp miễn giảm kiểm tra chất lượng hàng hóa nhóm 2 nhập khẩu (khoản 8 Điều 7 được sửa đổi);
 
Doanh nghiệp có thể áp dụng các quy định trên trong quá trình nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông.