Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ tư, ngày 15/08/2018

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Câu hỏi từ các Sở TT&TT - Các địa phương

Bảng tổng hợp kiến nghị và trả lời kiến nghị của các Sở Thông tin và Truyền thông trong lĩnh vực Bưu chính (đến hết tháng 4/2018)

- 2 tháng trước
Trả lời:
Độc giả: Nguyễn Quang Thái - 466/4 Lê Quang Định, P.11, Q. Bình Thạnh, HCM
thai.nguyen@vietducautomation.com.vn

Bên phía công ty em có nhận khẩu và cung cấp thiết bị RFID ( Thiết bị nhận dạng vô tuyến) cho một số nhà máy ở Việt Nam. Thiết bị RFID bên em hoạt động trong dãi tần số: 866 - 868 MHz theo thông tư 46/2016/TT-BTTT cũ thì được miễn giấy phép tần số, nhưng theo thông tư mới 04/2018/TT-BTTT thì thiết bị RFID hoạt động trong dãy tần số trên cần phải có giấy phép chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy. Phía công ty em muốn hỏi:

- Quy trình xin cấp phép sử dụng và nhập khẩu thiết bị trên như thế nào ạ?

- Các cơ quan và tổ chức nào có thể chứng nhận hợp quy cho thiết bị bên em ạ?

Em xin cám ơn!

- 2 tháng trước
Trả lời:
Cục Viễn thông - Bộ TT&TT trả lời như sau:
 
Theo quy định tại Thông tư số 42/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2018 của Bộ TT&TT (có hiệu lực từ nay đến ngày 30/6/2018) và quy định tại Thông tư số 04/2018/TT-BTTTT ngày 8/5/2018 (thay thế Thông tư số 42/2016/TT-BTTTT và có hiệu lực từ ngày 01/7/2018) thì thiết bị RFID hoạt động tại dải tần số từ 866-868 MHz và có công suất phát sóng vô tuyến điện từ 60mW trở lên thì phải thực hiện thủ tục chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy theo quy định của Thông tư số 30/2011/TT-BTTTT ngày 31/10/2011 của Bộ TT&TT Quy định về chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy đối với sản phẩm, hàng hóa chuyên ngành của Bộ TT&TT.
 
Đối với thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu – phát sóng vô tuyến điện, ngày 31/5/2018 Bộ TT&TT đã có quyết định số 823/QĐ-BTTTT Ban hành Danh mục văn bản QPPL hết hiệu lực toàn bộ thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ TTTT trong đó có Thông tư số 18/2014/TT-BTTTT ngày 26/11/2014 Quy định chi tiết thi hành Nghị định số 187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ đối với việc cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện. Do vậy, thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu thiết bị phát, thu-phát sóng vô tuyến điện đã được bãi bỏ.
 
Đối với thủ tục chứng nhận hợp quy, Quý Công ty có thể liên hệ thực hiện tại các địa chỉ sau:
 
- Miền Bắc: Trung tâm Kiểm định và Chứng nhận 1 – Cục Viễn thông
 
Địa chỉ: Tầng 3 tòa nhà Dolphin Plaza, số 28 Trần Bình, phường Mỹ Đình 1, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
 
Số điện thoại: (024) 37820990
 
- Miền Nam: Trung tâm Kiểm định và Chứng nhận 2 – Cục Viễn thông
 
Địa chỉ: Số 60 Tân Canh, Phường 1, Quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Số điện thoại: (028) 39919066 - 39919069
 
- Miền Trung: Trung tâm Kiểm định và Chứng nhận 3 – Cục Viễn thông

Địa chỉ: Số 42 Trần Quốc Toản, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

Số điện thoại:  (0236) 3827896

 
Độc giả: Nguyễn Thành Trí - Hồ Chí Minh
tringuyen5190@gmail.com

Trong quá trình lập dự toán của một số dự án về công nghệ thông tin thì trong phần dự toán chi phí phần mềm cũng như các chi phí lắp đặt, cài đặt thiết bị công nghệ thông tin được tính dựa trên đơn giá nhân công của kỹ sư tin học. Tuy nhiên, sau khi tham khảo các căn cứ pháp lý thì tôi chưa tìm ra văn bản hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong việc lập dự toán cho các dự án ứng dụng CNTT giống như Bộ Xây dựng có ban hành thông tư số 05/2016/TT-BXD ngày 10/03/2016 đề hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng.

Kính mong Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn tôi xác định đơn giá nhân công cho các dự án ứng dụng CNTT

- 2 tháng trước
Trả lời:

Cục Tin học hóa - Bộ TT&TT trả lời như sau:

1. Về Mức lương bao động bình quân (H) trong dự toánchi phí phần mềm nội bộ
 
Tại mục 4.13 Phần II của công văn 2589/CV-BTTTT ngày 24/8/2011 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn xác định chi phí phát triển, nâng cấp phần mềm nội bộ hướng dẫn “Mức lương bao động bình quân (H) được xác định căn cứ theo mặt bẳng giá của thị trường lao động phổ biến của từng khu vực trên cơ sở thang bảng lương do các đơn vị có chức năng phát triển, nâng cấp phần mềm đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động tiền lương được cơ quan nhà nước, địa phương công bố và các khoản lương phụ, phụ cấp lương (kể cả các khoản hỗ trợ lương) tại thời điểm tính toán.
 
Như vậy, tại giai đoạn xác định tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán khi lập, thẩm định, phê duyệt các dự án, hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin về phát triển, nâng cấp phần mềm nội bộ, trong khi chưa có số liệu về mặt bằng giá của thị trường lao động phổ biến, mức tiền lương được cơ quan nhà nước, địa phương công bố, ông Trí có thể áp dụng Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật lao động về tiền lương và các văn bản hướng dẫn để xác định mức lương lao động bình quân (H) làm cơ sở phê duyệt dự án, hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin.
 
2. Về đơn giá nhân công trong dự toán chi phí lắp đặt, cài đặt thiết bị công nghệ thông tin
 
Tại Phụ lục số 3 Thông tư số 06/2011/TT-BTTTT hướng dẫn xác định chi phí nhân công (NC) khi lập đơn giá xây lắp theo công thức:
 
NC = B x gnc                 
 
Trong đó:
 
- B: lượng hao phí lao động tính bằng ngày công trực tiếp theo cấp bậc bình quân cho một đơn vị khối lượng công tác xây lắp trong định mức dự toán xây lắp;
 
- gnc: xác định mức đơn giá ngày công của công nhân trực tiếp trên cơ sở lương tối thiểu vùng, lương cấp bậc, các khoản phụ cấp lương; khoản lương phụ tính bằng 12% lương cơ bản; một số chi phí có thể khoán trực tiếp cho người lao động tính bằng 4% lương cơ bản; các phụ cấp khác (nếu có).
 
Như vậy, Ông Trí có thể vận dụng hướng dẫn trên để lập đơn giá nhân công trong dự toán chi phí lắp đặt, cài đặt thiết bị công nghệ thông tin.
Độc giả: Phạm Văn Tráng - Công ty Anam Electronics Việt Nam - KCN Đồng Văn II, Duy Tiên, Hà Nam
trangpv14@gmail.com

Công ty chúng tôi là Doanh Nghiệp Chế Xuất ( DNCX), bắt đầu đi vào hoạt động năm 2013 và có trụ sở tại KCN Đồng Văn II, Duy Tiên, Hà Nam. Hiện tại, để phục vụ cho sản xuất xuất khẩu, chúng tôi đang cố gắng nội địa hóa nguồn nguyên phụ liệu, trong đó có 1 số linh phụ kiện như : tài liệu hướng dẫn sử dụng sản phẩm, giấy bảo hành sản phẩm, đĩa hướng dẫn sử dụng sản phẩm ( tất cả đều được đặt trước để đối tác trong nước sản xuất và in bằng ngôn ngữ khác tiếng Việt). Và khi mua những linh phụ kiện này, chúng tôi cần phải làm thủ tục Hải Quan để nhập khẩu nguyên liệu theo luật ( nhập khẩu nội địa).

Vậy Qúy cơ quan cho tôi hỏi, khi làm thủ tục để nhập khẩu linh phụ kiện trên, chúng tôi có cần phải có giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh không ?

- 3 tháng trước
Trả lời:

Cục Xuất bản, In và Phát hành, Bộ TT&TT trả lời như sau:

Theo quy định tại Khoản 4, Điều 4 Luật Xuất bản và Khoản 2, Điều 2 Thông tư 41/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 thì các tài liệu hướng dẫn sử dụng sản phẩm, giấy bảo hành sản phẩm, đĩa hướng dẫn sản phẩm thuộc loại không kinh doanh nếu không phải thể loại khoa học kỹ thuật thì đều phải có giấy phép nhập khẩu xuất bản phẩm không kinh doanh do Cục Xuất bản, In và Phát hành hoặc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh, thành phố cấp.

Độc giả: Trần Thị Hằng - Cầu Diễn, Hà Nội , Việt Nam
Tranhangk372543@gmail.com

 

Tôi được biết Chính phủ mới ban hành Nghị định 25/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 60/2014/NĐ-CP về hoạt động in. Tuy nhiên tôi có một điều chưa rõ mong được giải đáp.
 
Theo quy định của Nghị định 25/2018/NĐ-CP và Nghị định 60/2014/NĐ-CP, hai nghị định này áp dụng cho đối tượng là cơ sở in, trong đó cơ sở in được định nghĩa là: "doanh nghiệp, hộ kinh doanh, đơn vị sự nghiệp công lập trực tiếp thực hiện đầy đủ hoặc từng công đoạn chế bản, in, gia công sau in." Theo đó, cơ sở in phải đáp ứng một số các điều kiện về tổ chức và hoạt động in theo quy định.
 
Tôi muốn hỏi:
 
1. Phạm vi áp dụng của cơ sở in theo hai Nghị định này là áp dụng cho cơ sở kinh doanh dịch vụ in ấn hay áp dụng cho toàn bộ doanh nghiệp có hoạt động in nói chung?
 
2. Công ty tôi và rất nhiều công ty khác có hoạt động văn phòng cần sử dụng máy in để in ấn, phô tô tài liệu. Vậy công ty tôi có phải thực hiện các thủ tục đăng ký in theo quy định về cơ sở in không?

3. Hiện nay chúng tôi đã và mua một số và thuê một số máy in, máy phô tô về sử dụng in, pho to tài liệu thông thường thì có cần phải làm thủ tục gì để đáp ứng yêu cầu của pháp luật không?

- 3 tháng trước
Trả lời:

Cục Xuất bản, In và Phát hành, Bộ TT&TT trả lời như sau:

- Điều 1 Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in “Nghị định này áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động in trên lãnh thổ Việt Nam”.

- Đối với việc nhập khẩu và sử dụng thiết bị in thì có loại phải cấp phép nhập khẩu, có loại không.

Đối với việc đăng ký trước khi sử dụng cũng vậy có loại cần phải đăng ký, có loại không (ví dụ máy in có chức năng photocopy màu ngoài việc nhập khẩu phải có giấy phép, còn phải đăng ký máy với Sở Thông tin và Truyền thông sở tại trước khi hoạt động, Máy in offset khi nhập khẩu cần phải có giấy phép để thông quan, khi sử dụng thì không phải đăng ký với Sở TT&TT....).

Độc giả: Nguyễn Duy Dũng - UBND phường Lam Sơn - TP.Thanh Hóa
nguyenduydungth@gmail.com

Đầu tiên tôi xin được cảm ơn Bộ TT&TT trong thời gian qua có nhiều chỉ đạo tích cực giúp Viễn Thông, CNTT,..Việt Nam có những bước tiến vượt bậc, tạo lòng tin trong nhân dân, hiện tôi được biết Bộ đã ban hành quyết định về việc chuyển mạng giữ số áp dụng từ 08/01/2018 đây là dịch vụ rất thiết thực và mang lại nhiều lợi ích cho người dùng mà chúng tôi rất mong đợi, tuy nhiên sau bao lần lỡ hẹn thì đến nay dịch vụ vẫn chưa được nhà mạng triển khai, làm những người dùng như chúng tôi vô cùng thất vọng, không biết Bộ TT&TT nói sao về việc nhà mạng phớt lờ chỉ đạo của Bộ như thế này!

- 3 tháng trước
Trả lời:

Cục Viễn thông, Bộ TT&TT trả lời như sau:

Về chính sách, Bộ TT&TT đã ban hành Thông tư số 35/2017/TT-BTTTT ngày 23/11/2017 quy định về việc chuyển mạng viễn thông di động mặt đất giữ nguyên số, đây là hành lang pháp lý cơ bản để điều chỉnh một dịch vụ mới được triển khai tại Việt Nam và cũng là cơ sở để các doanh nghiệp đầu tư, thiết lập, nâng cấp hệ thống thiết bị để có thể triển khai được dịch vụ này.


Hiện nay, việc thử nghiệm dịch vụ có tải thật của 03 nhà mạng lớn là VNPT, Viettel, Mobifone đã hoàn tất. Bộ Thông tin và Truyền thông đang tiếp tục thử nghiệm với các mạng di động còn lại (Vietnamobile dự kiến hoàn tất thử nghiệm trong tháng 5/2018). Mặc dù chuyển mạng di động giữ nguyên số được coi là một dịch vụ GTGT trên mạng di động nhưng do đặc tính kết nối giữa các mạng viễn thông nên việc triển khai dịch vụ này ảnh hưởng trực tiếp tới cả các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ điện thoại cố định, các mạng viễn thông dùng riêng phục vụ các cơ quan Đảng, Nhà nước, quốc phòng, an ninh do phải đảm bảo phương án kỹ thuật để các cuộc gọi, nhắn tin hoặc các dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông cung cấp đến các thuê bao đã chuyển mạng được thông suốt sau khi dịch vụ chuyển mạng được triển khai.


Mặt khác, để triển khai được dịch vụ chuyển mạng thì cần có sự phối hợp, thống nhất giữa các bên về giá cước dịch vụ, điều kiện sử dụng dịch vụ, tỷ lệ phân chia cước dịch vụ và một số nội dung cốt lõi để tiến hành triển khai một cách đồng bộ. Do vậy, về phía các nhà mạng cần có thời gian để cân nhắc cũng như xây dựng quy trình nội bộ trong việc cung cấp dịch vụ tại các điểm tiếp nhận yêu cầu chuyển mạng (đào tạo nhân viên, xây dựng phần mềm, thống nhất mẫu bản khai đăng ký…) Vì vậy việc triển khai dịch vụ chuyển mạng cần phải thực hiện từng bước chắc chắn để không có tác động tiêu cực đến hoạt động của toàn bộ mạng viễn thông nói chung. Bộ Thông tin và Truyền thông hiện vẫn đang khẩn trương chỉ đạo và có các văn bản yêu cầu doanh nghiệp hoàn thành công việc theo đúng tiến độ và phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.