Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ tư, ngày 29/01/2020

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Thắng Trương Đức - Đà Nẵng
ThangtruongducCPC@Gmail.com

 Kính gửi Bộ TTTT

Để ngăn chặn tình trạng nặc danh gửi thư tố cáo nhưng mượn tên người khác gây bất ổn, mất uy tín thậm chí hiểu nhầm dẫn đến mâu thuẫn và hậu quả tai hại: các cơ quian mất thời gian xử lý, xác minh, người bị mạo danh mang tiếng xấu hay bị trả thù oan. Kính đề nghị Bộ TTTT quy định:

1 - "Khi gửi Bưu kiện hay Thư đảm bảo thì phải có Số điện thoại kèm theo của người gửi.

2 - Nhân viên bưu cục sẽ gọ vào số này hay tin nhắn từ hệ thống yêu cầu xác thực (nếu giả mạo, ghi số điện thoại của người khác thì người gửi sẽ không thể xác thực và không nên nhận Đơn thư tố cáo..." như NH và nhiều dịch vụ vận chuyên hiện nay đang thực hiện để cố gắng han chế tiêu cực, phá hoại, lừa đảo.

3 - Ngăn chặn tin tức phản động, vu khống hay mạo danh người khác.

Tôi vừa bị mạo danh và cac cơ quan đã mất 3 tháng đến nay chưa xác định được ai gửi vì đơn tố cáo chỉ ghi tên và số điện thoại của tôi mà số điện thoại cả ngàn người biết. Dĩ nhiên người viết đơn phải là người có thù oán và hiểu rõ nội dung.

Trân trọng!

- 1 tháng trước
Trả lời:

Về vấn đề này, Vụ Bưu chính - Bộ TTTT có ý kiến như sau:

- Theo khoản 1 Điều 11 Luật Bưu chính 49/2010/QH12, bưu gửi được chấp nhận khi có thông tin liên quan đến người gửi, người nhận trên bưu gửi, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

- Theo khoản 15 Điều 3 Luật Bưu chính 49/2010/QH12, thông tin liên quan đến người gửi người nhận gồm thông tin về họ tên, địa chỉ, số điện thoại (nếu có) của người gửi, người nhận và các thông tin có liên quan.
 
Như vậy, theo các quy định của Luật Bưu chính, việc cung cấp số điện thoại để liên hệ là không bắt buộc, hoàn toàn do khách hàng tự nguyện để tạo thuận lợi cho nhân viên bưu tá liên hệ khi phát hoặc chuyển hoàn bưu gửi. Việc kiểm tra lại nhân thân người gửi/người nhận không thuộc trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ.
 
Ngoài ra, căn cứ khoản 4 Điều 7 Luật Bưu chính 49/2010/QH12, mạo danh người khác khi sử dụng dịch vụ bưu chính làmột trong những hành vị bị cấm. Việc xử phạt khi vi phạm các hành vi bị cấm theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 58/2011/NĐ-CP ngày 8/7/2011 của Chính Phủ.
Độc giả: Ma Trang - Tả Thanh Oai, Thanh Trì Hà Nội
matrangcoi@gmail.com

 Kính gửi Quý cơ quan! Công ty tôi hiện đang kinh doanh mảng van công nghiệp, ngày 28/11 công ty có gửi 1 kiện hàng van cổng, van điện từ, van điều khiển khí nén, van điều khiển điện qua đơn vị giao hàng nhanh từ Hà Nội vào Vũng Tàu kiện hàng trị giá khoảng 8 triệu mà bên đơn vị vận chuyển làm mất hàng. Đây là lần đầu tiên công ty tôi gửi hàng bên đơn vị này nên chưa ký hợp đồng. Vậy xin hỏi quý cơ quan việc đền bù thiệt hại sẽ được tính thế nào và căn cứ vào đâu?

- 1 tháng trước
Trả lời:

Về vấn đề này, Vụ Bưu chính - Bộ TTTT có ý kiến như sau:

- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính được quy định tại khoản 1, 5 Điều 40 Luật Bưu chính 49/2010/QH12 và khoản 2 Điều 24; khoản 1 Điều 25 Nghị định 47/2011/NĐ-CP ngày 17/6/2011 của Chính Phủ. Theo đó, việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp Công ty Giao hàng nhanh làm mất hàng được xác định theo mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại toàn bộ đối với dịch vụ đó. Mức bồi thường thiệt hại do doanh nghiệp quy định không thấp hơn mức giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại tối thiểu được quy định như sau: 04 lần cước (đã bao gồm hoàn trả lại cước dịch vụ đã sử dụng) của dịch vụ đã sử dụng. 

- Căn cứ để xác định trách nhiệm của doanh nghiệp thực hiện thủ tục bồi thường được quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị định 47/2011/NĐ-CP, doanh nghiệp sẽ thực hiện bồi thường khi người sử dụng dịch vụ có chứng từ (Phiếu gửi) chứng minh việc sử dụng dịch vụ.
 
Do vậy, tuy không ký hợp đồng sử dụng dịch vụ, nếu Quý công ty có chứng từ chứng minh việc sử dụng dịch vụ (Phiếu gửi) thì có quyền yêu cầu doanh nghiệp (đơn vị giao hàng nhanh) bồi thường theo quy định.
Độc giả: Nguyễn Hằng Nga - Số 9 A, Ngõ 9 Hoàng Cầu, Ô Chợ Dừa, Đống Đa, Hà Nội
hnga1610@gmail.com

Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền Thông

Đơn vị là Công ty 100% vốn nước ngoài với dự án xây dựng Nhà máy sản xuất bao bì carton, in bao bì và đóng gói sản phẩm. Trước khi hoạt động, chúng tôi cần phải đăng ký hoạt động in với Sở Thông Tin Truyền Thông (Sở TTTT) tỉnh. Tuy nhiên, trong quá trình đăng ký, chúng tôi có nhận được yêu cầu của Sở TTTT về việc yêu cầu người đứng đầu cơ sở in phải đáp ứng việc thường trú hợp pháp tại Việt Nam theo quy định.

Sau khi xem xét quy định,nhận thấy họat động của chúng tôi là hoạt động in bao bì, thuộc đối tượng quy định tại điểm e, khoản 2, điều 2 Nghị định 60/2014/NĐ-CP, vì thế, thuộc đối tượng phải đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước vể hoạt động in theo điểm a, khoản 7, điều 1 Nghị định 25/2018/NĐ-CP.
 
Theo quy định trước đây, với hoạt động in bao bì, chúng tôi phải đáp ứng các điều kiện tại khoản 2, điều 11, NĐ 60/2014/NĐ-CP, bao gồm điều kiện: “Có người đứng đầu thường trú hợp pháp tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có trình độ cao đẳng trở lên về chuyên ngành in hoặc được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp giấy chứng nhận bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý hoạt động in”. 
 
Tuy nhiên, hiện nay NĐ 25/2018/NĐ-CP có hiệu lực, tại Điều 3 đã quy định bãi bỏ khoản 2, điều 11, NĐ 60/2014/NĐ-CP.
 
Hiện nay, người đại diện theo pháp luật của Doanh nghiệp chỉ mới cư trú và chưa đáp ứng điều kiện thường trú tại Việt Nam, dẫn đến việc đăng ký hoạt động cơ sở in của Công ty trở nên khó khăn.
 
Kính mong Quý Bộ giải đáp thắc mắc về việc là một Công ty có vốn đầu tư nước ngoài, Doanh nghiệp có cần phải đáp ứng điều kiện về cư trú đối với người đứng đầu cơ sở in theo khoản 2 Điều 11, NĐ 60/2014/NĐ-CP để được phép đăng ký hoạt động cơ sở in hay không?
 
Rất mong sớm nhận được phản hồi của Quý Bộ.
 
Trân Trọng cảm ơn./.

  
- 1 tháng trước
Trả lời:

Về nội dung này, Cục Xuất bản, In và Phát hành trả lời như sau:

Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 là Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014 của Chính phủ quy định về hoạt động in.
 
Vì vậy, những điểm, khoản, điều của Nghị định số 60/2014/NĐ-CP đã được Nghị định số 25/2018/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ thì không còn hiệu lực (nên các doanh nghiệp áp dụng quy định tại Nghị định số 25/2018/NĐ-CP để thực hiện).
Độc giả: Cao Nguyễn Quốc Cường - Thành phố Vinh, Nghệ An
quoccuong.epu@gmail.com

 Kính gửi: Bộ Thông Tin và Truyền Thông

Tôi là chủ thuê bao số 0825637637 của nhà mạng Vinaphone. Tôi đã nhiều lần làm CMGS sang nhà mạng Viettel nhưng bị nhà mạng Vinaphone chối rất nhiều lần với mã lỗi DNO05. Tuy nhiên số tôi là chính chủ, tất cả các thông tin đều trùng khớp với CMTND. Tôi gọi lên tổng đài rất nhiều lần thì nhà mạng Vinaphone mỗi lần đưa ra một lý do và lý do cuối cùng là thuê bao của tôi có đối tượng sử dụng là Khách hàng Doanh nghiệp, trong khi thông tin thuê bao trùng khớp CMTND. Tổng đài hướng dẫn ra điểm giao dịch, điểm giao dịch lại bảo gọi tổng đài, khiến thuê bao của tôi ba tuần nay tôi vẫn chưa chuyển được mạng. Cách làm việc của nhà mạng khiến tôi rất bức xúc. Mỗi lần gọi điện đưa ra một lý do, hướng dẫn lòng vòng và tới nay vẫn không ai gọi lại để giải quyết cho khách hàng. Vậy tôi kính mong Bộ can thiệp giúp tôi yêu cầu nhà mạng này gỡ bỏ tất cả các lỗi để tôi được chuyển mạng thành công. Kính mong Bộ có biện pháp chế tài với nhà mạng này để người dân đỡ vất vả trong việc chuyển mạng giữ số.
Trân trọng.
- 1 tháng trước
Trả lời:

Sau khi tiếp nhận phản ánh, khiếu nại độc giả, Cục Viễn thông đã yêu cầu Vinaphone xem xét và xử lý khiếu nại của độc giả, báo cáo kết quả xử lý về Cục Viễn thông.

Vinaphone cho biết, TB của bạn đã chuyển mạng thành công.
Độc giả: Nguyễn Văn Hiếu - Số 24 Chợ Con, Lê Chân, Hải Phòng
hieuhppc@gmail.com

 Tôi là chủ thuê bao số 0966159829 của nhà mạng Viettel. Tôi đã nhiều lần làm YCCM sang nhà mạng MobiFone nhưng bị nhà mạng Viettel từ chối và bảo số tôi cam kết không được chuyển mạng. Tuy nhiên từ khi sử dụng số này tôi chẳng cam kết điều gì, tôi dùng số trả trước. Tôi đề nghị Bộ có ý kiến cho tôi xem hợp đồng của tôi ký với Viettel, tôi dùng thuê bao trả trước không liên quan đến hợp đồng. Kính đề nghị Bộ có ý kiến để tôi chuyển mạng sang MobiFone. Trân trọng.

- 1 tháng trước
Trả lời:

Sau khi tiếp nhận phản ánh, khiếu nại độc giả, Cục Viễn thông đã yêu cầu Viettel xem xét và xử lý khiếu nại của độc giả, báo cáo kết quả xử lý về Cục Viễn thông.

Viettel cho biết, TB của bạn đã chuyển mạng thành công.
Độc giả: Lê Ngọc Tân - Thôn 6, Ngọc Liên, Ngọc Lặc, Thanh Hóa
tanmobile8386@gmail.com

Theo Thông tư số 35/2017/TT-BTTTT ngày 23/11/2017 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về việc chuyển mạng thông tin di động giữ nguyên số và các văn bản quy định về chuyển mạng giữ số mà bản thân đã tìm hiểu, số thuê bao trên của tôi đủ điều kiện chuyển mạng giữ số theo quy định.

Ngày 26/11/2019 tôi đã gửi thông tin yêu cầu chuyển mạng giữ số thuê bao 0928588789 từ mạng gốc Vietnamobile sang Viettel đã được nhân viên nhà mạng Viettel hoàn thiện thủ tục chuyển mạng, khi soạn tin nhắn: YCCM gửi 1441 thì đã bị nhà mạng Vietnamobile hủy với lý do chưa đáp ứng 1 trong các điều kiện chuyển mạng. Tôi đã trực tiếp liên hệ tổng đài 789 của nhà mạng và nhận được phản hồi: "Hiện tại nhà mạng chưa có chính sách chuyển mạng giữ số cho các thuê bao số đẹp". Và tôi đã liên lạc với Trung tâm chuyển mạng - Cục viễn thông 3 lần nhưng vẫn chưa nhận được phản hồi. Xét thấy đây là lý do không có cơ sở pháp luật - nhà mạng gốc đã cố tình biện lý do để níu giữ khách hàng một cách vô lý, cố làm sai, làm ngược các quy định và pháp luật hiện tại. Tôi làm đơn này kính trình Cục Viễn thông, cấp thẩm quyền xác minh, xem xét, sớm phản hồi để tôi được chuyển mạng giữ số theo quy định hiện hành.

- 1 tháng trước
Trả lời:

Sau khi tiếp nhận phản ánh, khiếu nại độc giả, Cục Viễn thông đã yêu cầu Vietnamoblie xem xét và xử lý khiếu nại của độc giả, báo cáo kết quả xử lý về Cục Viễn thông.

Vietnamobile cho biết, TB của bạn thuộc số đẹp kèm cam kết.