“Chứng thư điện tử” - một trong các điểm mới quan trọng của Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi)

(Mic.gov.vn) - 

So với Luật Giao dịch điện tử năm 2005, Luật Giao dịch điện tử (GDĐT) sửa đổi (năm 2023) kế thừa có sửa đổi, bổ sung 33 điều, quy định mới 18 điều với những điểm mới cơ bản sau đây:


20240109-m02.jpg

Các đại biểu Quốc hội tham dự biểu quyết thông qua Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi).

Thứ nhất, về phạm vi điều chỉnh (Điều 1): Luật GDĐT (năm 2023) giúp nhiều luật hiện nay có ngay hiệu lực thi hành trên môi trường số. Luật này quy định việc thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử; Luật này không quy định về nội dung, điều kiện, hình thức của giao dịch; Trường hợp luật khác quy định hoặc không quy định giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử thì được áp dụng theo quy định của Luật này. Trường hợp luật khác quy định không được thực hiện giao dịch bằng phương tiện điện tử thì thực hiện theo quy định của luật đó.

Thứ hai, về khái niệm (Điều 3):Luật mới đã kế thừa, sửa đổi, bổ sung các khái niệm: “chữ ký điện tử”, “chữ ký số”, “dấu thời gian”, “hợp đồng điện tử”, “dữ liệu số”, “dữ liệu chủ”, “môi trường điện tử”, “chứng thư điện tử”, “dịch vụ chứng thực chữ ký số”, “người trung gian”,...

Thứ ba, về hành vi bị nghiêm cấm trong GDĐT (Điều 6): Luật quy định chi tiết, cụ thể hơn những nội dung và hành vi bị nghiêm cấm trong GDĐT tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuân thủ Luật.

Thứ tư, về thông điệp dữ liệu (Chương II): 

(i) Thông điệp dữ liệu có giá trị như văn bản (Điều 9), thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc (Điều 10), thông điệp dữ liệu có giá trị dùng làm chứng cứ (Điều 11) tạo căn cứ pháp lý cho việc triển khai trên thực tế.

(ii) Việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu (Điều 12) là nội dung mới quy định tại Luật, bảo đảm giá trị pháp lý khi chuyển đổi từ bản giấy sang thông điệp dữ liệu và ngược lại, đáp ứng nhu cầu của xã hội.

(iii)Chứng thư điện tử (mục 3): Việc đưa ra khái niệm chứng thư điện tử và đảm bảo giá trị pháp lý cho hình thức này là một bước đột phá lớn để thúc đẩy các hoạt động GDĐT trong các ngành, lĩnh vực và xã hội diễn ra toàn trình. 

Thứ năm, về chữ ký điện tử và dịch vụ tin cậy (Chương III): 

(i) Chữ ký điện tử (Điều 22): Luật GDĐT (năm 2023) cơ bản không thay đổi về nguyên tắc so với Luật GDĐT (năm 2005), chỉ khái quát hóa, sửa đổi, bổ sung quy định cụ thể về chữ ký điện tử, chữ ký điện tử chuyên dùng, chữ ký số (chữ ký số chuyên dùng công vụ và chữ ký số công cộng). Đồng thời, bổ sung quy định về các hình thức xác nhận khác bằng phương tiện điện tử mà không phải chữ ký điện tử để phù hợp với thực tiễn triển khai.

(ii) Công nhận tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước ngoài; công nhận chữ ký điện tử, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài; Chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài được chấp nhận trong giao dịch quốc tế (Điều 26, Điều 27): Một trong những điều kiện quan trọng được quy định là chữ ký điện tử nước ngoài, chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài phải phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về chữ ký điện tử, chứng thư chữ ký điện tử theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc tiêu chuẩn quốc tế đã được thừa nhận hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử nước ngoài phải cập nhật trạng thái của chứng thư chữ ký điện tử nước ngoài vào hệ thống chứng thực dịch vụ tin cậy của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam. 

(iii) Dịch vụ tin cậy (mục 2): Đây là ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện bao gồm: dịch vụ cấp dấu thời gian; dịch vụ chứng thực thông điệp dữ liệu; dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng. Thời hạn của giấy phép kinh doanh dịch vụ tin cậy là 10 năm. Chính phủ quy định chi tiết hoạt động của tổ chức cung cấp dịch vụ tin cậy, điều kiện kinh doanh và quy trình, thủ tục cấp giấy phép.

Thứ sáu, về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử (Chương IV):Giao kết hợp đồng điện tử là việc sử dụng thông điệp dữ liệu để tiến hành một phần hoặc toàn bộ giao dịch trong quá trình giao kết hợp đồng điện tử. Luật quy định giao Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về giao kết và thực hiện hợp đồng điện tử trong lĩnh vực thuộc phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được phân công, phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Thứ bảy, GDĐT của cơ quan nhà nước (Chương V):

(i) Các loại hình GDĐT của cơ quan nhà nước (Điều 39): GDĐT trong nội bộ cơ quan nhà nước; GDĐT giữa các cơ quan nhà nước với nhau; GDĐT giữa cơ quan nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân.

(ii) Quản lý dữ liệu, cơ sở dữ liệu (CSDL) dùng chung (Điều 40): CSDL dùng chung trong cơ quan nhà nước bao gồm CSDL quốc gia, CSDL của Bộ, ngành, địa phương. Chính phủ quy định việc xây dựng, cập nhật, duy trì và khai thác, sử dụng CSDL quốc gia; quy định việc chia sẻ CSDL quốc gia với CSDL của cơ quan khác của Nhà nước. Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định danh mục CSDL; việc xây dựng, cập nhật, duy trì và khai thác, sử dụng CSDL của Bộ, ngành, địa phương mình.

(iii) Dữ liệu mở của cơ quan nhà nước (Điều 43): Dữ liệu mở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công bố rộng rãi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân tự do sử dụng, tái sử dụng, chia sẻ. Dữ liệu mở phải toàn vẹn và phản ánh đầy đủ thông tin do cơ quan nhà nước cung cấp, được cập nhật mới nhất, có khả năng truy cập và sử dụng trên mạng Internet, bảo đảm khả năng thiết bị số có thể gửi, nhận, lưu trữ và xử lý được, tuân thủ định dạng mở và miễn phí.

(iv) Hoạt động của cơ quan nhà nước trên môi trường điện tử (Điều 44): Luật quy định cơ quan nhà nước được thuê chuyên gia từ ngân sách nhà nước hàng năm để tư vấn xây dựng CSDL. Quy định này bước đầu tháo gỡ khó khăn về việc sử dụng kinh phí sự nghiệp cho công tác duy trì, vận hành hệ thống thông tin gồm thuê tư vấn xây dựng CSDL; thực hiện các hoạt động chuyên môn kỹ thuật về quản lý, vận hành, bảo đảm an toàn an ninh mạng cho hệ thống thông tin phục vụ GDĐT của cơ quan nhà nước.

Thứ tám, về hệ thống thông tin phục vụ GDĐT (Chương VI): So với Luật GDĐT (năm 2005), Luật đã bổ sung quy định cụ thể các loại hệ thống thông tin phục vụ GDĐT (Điều 45), tài khoản GDĐT (Điều 46); trách nhiệm của chủ quản hệ thống thông tin phục vụ GDĐT (Điều 47) đặc biệt là với các nền tảng số trung gian phục vụ GDĐT có quy mô, số lượng người sử dụng tại Việt Nam hoặc số lượng truy cập hằng tháng từ người sử dụng tại Việt Nam lớn và rất lớn; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Kinh nghiệm một số quốc gia trong khu vực và trên thế giới cũng áp dụng chính sách quản lý này để bảo đảm an toàn trong giao dịch trên môi trường điện tử.

Về nội dung nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử

Khoản 2 Điều 45 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy địnhNền tảng số phục vụ giao dịch điện tử là hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử tạo môi trường điện tử cho phép các bên thực hiện giao dịch hoặc cung cấp, sử dụng sản phẩm, dịch vụ hoặc sử dụng để phát triển sản phẩm, dịch vụ.

Khoản 3 Điều 45 quy định Nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử là nền tảng số quy định tại khoản 2 Điều 45 mà chủ quản nền tảng số độc lập với các bên thực hiện giao dịch.

Việc quy định phân loại nền tảng số phục vụ giao dịch điện tử, nền tảng số trung gian phục vụ giao dịch điện tử, Luật giao Chính phủ quy định chi tiết. Việc phân loại căn cứ theo chủ quản hệ thống thông tin; chức năng, tính năng của hệ thống thông tin phục vụ giao dịch điện tử; quy mô, số lượng người sử dụng tại Việt Nam hoặc số lượng truy cập hằng tháng từ người sử dụng tại Việt Nam./.

Doãn Mạnh

ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT( 0)