Báo cáo về Dự án Luật công nghệ thông tin

(Mic.gov.vn) - (Tại Lễ công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật CNTT ngày 21 tháng 7 năm 2006)

(Tại Lễ công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật CNTT ngày 21 tháng 7 năm 2006).

Thực hiện Nghị quyết 35/2004/QH11 ngày 25/11/2004 của Quốc hội về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2005, Chính phủ đã giao cho Bộ Bưu chính Viễn thông chủ trì soạn thảo Luật Công nghệ thông tin. Ban soạn thảo Luật Công nghệ thông tin đã được thành lập với sự tham gia của đại diện Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Quốc phòng, Bộ Kế hoạch và Đầu tư... Trong quá trình xây dựng Dự án Luật Công nghệ thông tin, Ban soạn thảo đã tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động công nghệ thông tin của các tỉnh, thành phố và doanh nghiệp; tiến hành rà soát, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật về công nghệ thông tin; tổ chức nghiên cứu, trao đổi và học tập kinh nghiệm xây dựng luật công nghệ thông tin của một số nước trên thế giới và đi sâu nghiên cứu hệ thống Luật Công nghệ thông tin của Hàn quốc; tổ chức hội thảo quốc tế với chuyên gia luật công nghệ thông tin của Hàn quốc, 10 hội nghị, hội thảo để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi của các Bộ, Ngành, tỉnh, thành phố, các tổ chức xã hội, các hội về công nghệ thông tin, các doanh nghiệp, các nhà quản lý, các nhà khoa học và các chuyên gia công nghệ thông tin.
Ban soạn thảo Luật công nghệ thông tin xin báo cáo những nội dung chính của dự án Luật Công nghệ thông tin như sau:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin trong những thập niên cuối thế kỷ XX đã tạo ra khả năng và cơ hội mới cho sự phát triển kinh tế- xã hội trên phạm vi toàn cầu. Công nghệ thông tin được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và làm thay đổi căn bản cách quản lý, học tập và làm việc của con người. Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động quản lý nhà nước giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Ở nước ta, công nghệ thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát huy có hiệu quả năng lực trí tuệ của người Việt Nam, thúc đẩy phát triển kinh tế, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước trong khu vực và trên thế giới, tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và đảm bảo quốc phòng, an ninh. Mặt khác, công nghiệp công nghệ thông tin là ngành công nghiệp mà giá trị của sản phẩm chủ yếu là hàm lượng công nghệ và tri thức cao sẽ là ngành công nghiệp mũi nhọn, là nhân tố quan trọng đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện chiến lược "đi tắt, đón đầu" sớm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển.
Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều Nghị quyết, văn bản chỉ đạo, định hướng cho phát triển công nghệ thông tin của đất nước. Ngày 30/3/1991, Bộ Chính trị đã có Nghị quyết số 26/NQ-TW về khoa học và công nghệ trong sự nghiệp đổi mới khẳng định công nghệ thông tin là phương tiện chủ lực để Việt Nam "đi tắt, đón đầu" nhằm rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước công nghiệp tiên tiến. Ngày 4/8/1993, Chính phủ có Nghị quyết 49/CP về phát triển công nghệ thông tin đến năm 2000 nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào mọi lĩnh vực sản xuất, kinh tế và văn hoá của đất nước, trong đó “nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý”, được xem là một nhiệm vụ quan trọng. Ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị đã có Chỉ thị số 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã khẳng định “Công nghệ thông tin là một trong các động lực quan trọng nhất của sự phát triển. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng “đi tắt, đón đầu” để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin.... từng bước phát triển kinh tế tri thức” và những nội dung này đã được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X.
Tuy vậy, CNTT Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, sự phát triển chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Việc đầu tư cho công nghệ thông tin còn dàn trải và kém hiệu quả. Năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp công nghệ thông tin của Việt Nam còn yếu. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nhất là quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước còn chậm, chưa đồng bộ, hiệu quả chưa cao. Sản phẩm công nghệ thông tin có sức cạnh tranh thấp, thâm nhập được vào thương trường thế giới không đáng kể. Tình hình đó do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về tổ chức thực hiện và môi trường pháp lý vì các văn bản quy phạm pháp luật hiện có ở nước ta còn rời rạc, đơn lẻ nên hoạt động CNTT chưa được điều chỉnh bởi một hệ thống các quy phạm pháp luật thống nhất, đồng bộ và cập nhật với sự phát triển của CNTT thế giới. Do đó, cần thiết phải có Luật về CNTT để điều chỉnh các mối quan hệ xã hội mới phát sinh do sự phát triển của CNTT, tạo cơ sở pháp lý để góp phần khắc phục những yếu kém, đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT.
Với các nội dung đã phân tích ở trên, việc ban hành Luật Công nghệ thông tin là rất cần thiết, nhằm tạo hành lang pháp lý cơ bản để điều chỉnh các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, tạo điều kiện thuận lợi để từng bước phát triển kinh tế tri thức, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh. Mặt khác, việc ban hành Luật Công nghệ thông tin nhằm tạo sự đồng bộ với các quy định trong các đạo luật có liên quan đồng thời tạo khuôn khổ pháp lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu hội nhập, thực hiện các cam kết quốc tế với ASEAN, APEC, WTO…
II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬT CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Luật Công nghệ thông tin gồm 6 chương, 79 điều, cụ thể như sau:
Chương I. Những quy định chung
Nội dung của Chương này quy định những vấn đề về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, áp dụng luật, giải thích từ ngữ, chính sách của nhà nước về công nghệ thông tin, nội dung quản lý nhà nước cũng như trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, thanh tra về CNTT, hội, hiệp hội CNTT và các hành vi bị nghiêm cấm.
Phạm vi điều chỉnh của Luật tập trung vào các hoạt động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin là những vấn đề cốt lõi, đặc biệt quan trọng để phát triển công nghệ thông tin.
Chương II. Ứng dụng công nghệ thông tin
Các quy định của Chương này tạo hành lang pháp lý cơ bản để đảm bảo hoạt động và thúc đẩy các hoạt động trên môi trường mạng nhằm phát triển ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Mục 1 quy định về những vấn đề cơ bản nhất, chung nhất về ứng dụng CNTT. Mục này quy định theo hướng cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tự do ứng dụng CNTT trong tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh, hoạt động phòng chống lụt bão, thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, văn hóa, giáo dục, y tế, … Bên cạnh đó, Luật CNTT cũng quy định về các trường hợp ứng dụng CNTT được ưu tiên hoặc các trường hợp ứng dụng cần hạn chế phục vụ cho nhu cầu quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ sức khoẻ cộng đồng...
Mục 2, Mục 3 quy định cụ thể về ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan nhà nước (thực hiện chính phủ điện tử) và trong hoạt động thương mại (thương mại điện tử) với ý nghĩa là những ứng dụng công nghệ thông tin quan trọng nhất, phổ biến nhất. Đối với một số lĩnh vực đặc thù như bảo đảm sức khỏe con người, an toàn an ninh mạng, giữ gìn trật tự xã hội, quốc phòng, an ninh Mục 4 quy định theo hướng giao nhiệm vụ cho các cơ quan Nhà nước quản lý, giám sát các lĩnh vực này nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của tổ chức, cá nhân.
Chương III. Phát triển công nghệ thông tin
Mục tiêu của Chương này nhằm thể chế hóa đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về việc phát triển công nghệ thông tin nhằm đưa lĩnh vực này trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp ngày càng tăng cho GDP của đất nước.
Mục 1 đưa ra các quy định khuyến khích nghiên cứu phát triển CNTT và quy định về tiêu chuẩn, chất lượng sản phẩm, dịch vụ CNTT. Mục 2 đưa ra các quy định nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi phát triển nguồn nhân lực CNTT đáp ứng được các mục tiêu đã đề ra trong Chiến lược phát triển CNTT&TT đến 2010 và định hướng đến 2020. Mục 3 xác định rõ nội dung hoạt động công nghiệp công nghệ thông tin, chính sách của nhà nước và vai trò của các chủ thể trong hoạt động công nghiệp công nghệ thông tin nhằm tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho công tác quản lý nhà nước và phát triển công nghiệp công nghệ thông tin. Mục 4 xác định rõ loại hình dịch vụ CNTT và quy định nguyên tắc về việc ưu đãi phát triển dịch vụ CNTT.
Chương IV. Biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT.
Chương này quy định về các biện pháp bảo đảm ứng dụng và phát triển CNTT nhằm cụ thể hóa một bước tinh thần của Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ chính trị: "Công nghệ thông tin là lĩnh vực được đặc biệt khuyến khích đầu tư. Rà soát và tháo bỏ mọi nhận thức và quy định không phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi nhất, áp dụng mức ưu đãi hiện hành cao nhất và từng bước đạt mức ưu đãi bằng hoặc cao hơn so với các nước trong khu vực cho việc ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin”.
Các Mục trong Chương này đã đưa các quy định bảo đảm phát triển cơ sở hạ tầng thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu ứng dụng và phát triển CNTT; các quy định tạo cơ sở pháp lý thu hút đầu tư của nhà nước, tổ chức, cá nhân cho ứng dụng và phát triển CNTT; quy định về nguyên tắc và nội dung hợp tác quốc tế trong lĩnh vực CNTT; quy định việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và hỗ trợ người sử dụng sản phẩm, dịch vụ CNTT, các quy định trong mục này góp phần bảo đảm lòng tin của người sử dụng khi tham gia hoạt động ứng dụng và phát triển CNTT, một yếu tố quan trọng thúc đẩy các hoạt động trên môi trường mạng.
Chương V. Giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm quy định nguyên tắc về tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Chương VI. Điều khoản thi hành quy định thời gian có hiệu lực thi hành từ 1/1/2007 và trách nhiệm của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Công nghệ thông tin.
Để Luật công nghệ thông tin được triển khai trong thực tế, Bộ Bưu chính, Viễn thông đã và đang phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật cần thiết quy định chi tiết thi hành Luật Công nghệ thông tin, bao gồm:
- Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Công nghệ thông tin về công nghiệp công nghệ thông tin;
- Nghị định về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước;
- Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin;
- Quy chế quản lý đầu tư phù hợp với các dự án ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng vốn đầu tư có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước;
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác hướng dẫn thi hành luật công nghệ thông tin do thủ tướng chính phủ và các bộ ban hành theo thẩm quyền.

Ban soạn thảo Luật CNTT

ĐÁNH GIÁ BÀI VIẾT( 0)