Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ bảy, ngày 29/02/2020

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Châu Lập Dũ - 93b Lê Quang Sung, phường 2 , quận 6, TP. HCM
clapdu@gmail.com

Xin phép cho hỏi ngày 6/2/2020 Bộ cho phép bưu điện nhận gửi khẩu trang ra nước ngoài vì mục đích nhân đạo , vậy tôi muốn gửi 250 cái khẩu trang cho người thân ở Quảng Châu, Trung Quốc thì cần phải làm thủ tục như thế nào ? Hiện tại tất cả các công ty phát chuyển nhanh và bưu điện đều không nhận gửi. Chân thành cảm ơn và chờ đợi hồi âm .

- 20 giờ trước
Trả lời:

Sau khi nghiên cứu các nội dung liên quan, Vụ Bưu chính - Bộ TT&TT có ý kiến như sau:

Căn cứ Chỉ thị số 05/CT-BTTTT ngày 02/02/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra và Thông báo số 12/TB-BTTTT ngày 06/02/2020 thông báo ý kiến của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về việc chấp nhận, chuyển phát ra nước ngoài các trang thiết bị y tế dùng cho việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra, các tổ chức, cá nhân có nhu cầu gửi ra nước ngoài các trang thiết bị y tế dùng cho việc phòng bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng vi rút Corona (nCoV) gây ra (khẩu trang y tế, nước sát trùng, găng tay y tế) vì mục đích nhân đạo qua đường bưu chính đều thông qua Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Do đó, đến thời điểm hiện tại, việc chuyển phát khẩu trang y tế cho người thân ở nước ngoài qua doanh nghiệp bưu chính chưa được sự cho phép của Bộ Thông tin và Truyền thông. Bộ Thông tin và Truyền thông sẽ thông báo tới cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp bưu chính khi có thay đổi về nội dung trên.

Độc giả: Phan Doãn Hồng - thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình
healtheworld178@gmail.com

Chào Ban Biên Tập!

Tôi hiện đang công tác tại UBND cấp xã. Theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử có quy định mức xử phạt trong hoạt động trò chơi điện tử công cộng (Điều 105), có quy định  Thẩm quyền xử phạt của UBND các cấp (Điều 115), nhưng tại Điều 120 quy định Phân định thẩm quyền xử phạt của UBND các cấp thì lại không quy định UBND các cấp có quyền xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 105 (lĩnh vực trò chơi điện tử công cộng).

Hiện nay, hoạt động trò chơi điện tử công cộng là vấn đề mà UBND các cấp rất quan tâm, rất cần chế tài xử lý, cần có quy định xử phạt. Vậy, theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP thì UBND cấp xã, huyện, tỉnh có xử phạt vi phạm trong hoạt động trò chơi điện tử công cộng theo Điều 105 được không? 

Mong Qúy cơ quan giải đáp!

- 20 giờ trước
Trả lời:

Sau khi nghiên cứu câu hỏi của bạn, Thanh tra Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:

Điều 120 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định như sau:

“Điều 120. Phân định thẩm quyền xử phạt

1. Ủy ban nhân dân các cấp:

a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có quyền xử phạt vi phạm hành chính tại khoản 1 Điều 55 Nghị định này;

b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có quyền xử phạt vi phạm hành chính tại các Điều 9, 10 và 12; các khoản 1, 2 và 3 Điều 34; các Điều 38, 39, 40 và 41, các khoản 1, 2 và 3 Điều 55; các Điều 56 và 98 Nghị định này;

c) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có quyền xử phạt vi phạm hành chính tại các Điều 9, 10, 12, 33, 37, 38, 39, 40, 53, 54, 95 và 96 Nghị định này.”.

- Đối chiếu với quy định trên thì Ủy ban Nhân dân cấp xã, huyện, tỉnh không có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính về điểm cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử công cộng.

Độc giả: Nguyễn Thị Thanh Xuân - 65 Trần Quốc Hoàn, P4, quận Tân Bình, TP.HCM
staff10@delta.vn

 Kính gửi Quý cơ quan,

Công ty chúng tôi tiến hành nhập khẩu các mặt hàng thiết bị phát wifi như sau:
-          - Thiết bị mạng nội bộ không dây - WIRELESS LAN UNIT, model ELPAP10,nhãn hiệu Epson, hàng mới 100% - HS: 85176251
 
-          -Thiết bị mạng nội bộ không dây - WIRELESS LAN UNIT, model ELPAP11,nhãn hiệu Epson, hàng mới 100% - HS: 85176251
 
Với thông tin trên công ty chúng tôi cần phải xin chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy hay không ạ?
 
Rất mong hỗ trợ giải đáp sớm nhất từ phía Bộ TT&TT.
 
Xin chân thành cảm ơn
- 21 giờ trước
Trả lời:

Cục Viễn thông - Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:

Căn cứ quy định Thông tư số 05/2019/TT-BTTTT ngày 09/7/2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông,

Các thiết bị mạng nội bộ không dây có ký hiệu: ELPAP10, ELPAP11, mã số HS: 8517.62.51 thuộc mục 3.2 và 3.3 Phụ lục I Thông tư số 05/2019/TT-BTTTT ngày 09/7/2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông. Do đó phải chứng nhận hợp quy, công bố hợp quy , kiểm tra nhà nước về chất lượng hàng hóa nhập khẩu theo quy định tại:
 
(i) Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 74/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. 
 
(ii) Thông tư số 30/2011/TT-BTTTT ngày 31/10/2011 được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 15/2018/TT-BTTTT ngày 09/11/2018 của Bộ Thông tin và Truyền thông.
 
(iii) Công văn số 2305/BTTTT-CVT ngày 17/7/2018 về việc đăng ký kiểm tra chất lượng sản phẩm, hàng hóa thuộc trách nhiệm quản lý chuyên ngành của Bộ Thông tin và Truyền thông khi làm thủ tục thông quan.
Độc giả: Trần Phương Hảo - Số 05 Lý Tự Trọng, Phường Minh Khai, quận Hồng Bàng , TP.Hải Phòng
hao.cplog@gmail.com

Kính thưa Anh/Chị !

Hiện nay Công ty em chuẩn bị nhập khẩu mặt hàng Pin sạc dự phòng ( Lithium -ion ) . Anh / chị cho em hỏi thủ tục hải quan cần chuẩn bị những gì và cơ quan chuyên ngành nào được phép cấp công bố hợp quy ?

- 21 giờ trước
Trả lời:

Cục Viễn thông - Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:

Căn cứ quy định Thông tư số 05/2019/TT-BTTTT ngày 09/7/2019 của Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây mất an toàn thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Thông tin và Truyền thông, Pin Lithium cho máy tính xách tay, điện thoại di động, máy tính bảng phải thực hiện công bố hợp quy (không áp dụng đối với Pin Lithium rời là pin sạc dự phòng dùng để nạp điện cho các thiết bị này).
Độc giả: Nguyễn Đình Dũng - 60 đường 9, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức, TP. HCM
Philong0512@gmail.com

Kính gửi Bộ TT&TT, tôi có số điện thoại 0993309999 của Gmobile, đứng tên chủ thuê bao Nguyễn Đình Dũng. Vào thời điểm tháng 12 năm 2019, nhà mạng thông báo nếu số của tôi không nạp tiền sẽ cắt số điện thoại. Tuy nhiên ngay sau đó nhà mạng này gần như mất sóng toàn bộ khu vực TP HCM và hầu hết các tỉnh khác, gọi tổng đài thì không bao giờ có nhân viên nhấc máy, các chi nhánh thì toàn bộ đóng cửa. Tới nay tôi không biết làm cách nào để liên lạc với nhà mạng này để làm thủ tục lấy lại số, tôi dùng số khác để nạp tiền qua 3 lần nhưng không hề nhận được tiền và cũng không được hoàn tiền lại, xin Bộ trả lời giúp tôi về nhà mạng này, tôi còn một số điện thoại Gmobile khác cũng không thể liên lạc được nên rất bức xúc, rất mong nhận được câu trả lời, xin chân thành cảm ơn. 

- 21 giờ trước
Trả lời:

Sau khi nghiên cứu, xem xét nội dung câu hỏi của bạn, Cục Viễn thông - Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:

Cục Viễn thông đã chuyển nội dung câu hỏi của Độc giả tới Tổng Công ty Gtel Mobile và đề nghị Gtel Mobile liên hệ trực tiếp với khách hàng để giải quyết nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ khi giao kết hợp đồng sử dụng dịch vụ viễn thông với doanh nghiệp theo đúng quy định. Theo đó, Gmobile đã hỗ trợ khách hàng sử dụng số 0993309999 được bình thường, đồng thời cũng đã hướng dẫn khách hàng sử dụng các số thuê bao khác của nhà mạng khách hàng đang sử dụng.

Trong trường hợp có vướng mắc, đề nghị Quý độc giả liên hệ với số điện thoại chăm sóc khách hàng của Gtel Mobile theo số điện thoại 0993666199 để được hướng dẫn cụ thể.
Độc giả: Phạm Duy Lịch - Quận Ngô Quyền - Tp.Hải Phòng
hoso1368@gmail.com

 Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông

Tôi tên là Phạm Duy Lịch. Tôi là một điểm bán lẻ và là khách hàng sử dụng mạng MobiFone từ những năm 2011 cho tới nay.

Tháng 01/2019 - 07/2019 tôi có mua một lô sim trả trước nguyên kít trên mạng xã hội Facebook và Zalo. Tất cả các số thuê bao tôi kiểm tra đúng số và seri, nhưng ko hiểu vì lý do gì MobiFone khu vực 5 lại thu hồi toàn bộ lô số tôi đã bỏ tiền ra mua. Tôi đã nhiều lần gọi lên tổng đài 9090 và đến cửa hàng 72 Lạch Tray - Ngô Quyền để yêu cầu kiểm tra và khôi phục lại những số đã hủy thu hồi nhưng đã nhiều lần hứa hẹn và cuối cùng không thực hiện khôi phục lại. 

Sau khi tôi phản ánh, ngày 27.08.2019 - Phòng CSKH MobiFone khu vực 5 đã gọi điện trực tiếp cho tôi báo số 0901564564 và 0936808489 đã được các sếp phê duyệt cần mang chứng minh thư và sim gốc ra cửa hàng để khôi phục. Tôi có cầm sim gốc qua CH để khôi phục thì các bạn không hỗ trợ vì KHÔNG CÓ HỢP ĐỒNG MUA BÁN. 

Tôi có tìm hiểu các điểm bán trên địa bàn Hải Phòng và toàn quốc khi nhập sim và bán sim lẻ tới từng khách hàng, không ai có hợp đồng mua bán và xuất hóa đơn cho đại lý. Tại sao khi xảy ra sự việc, bên MobiFone khu vực 5 là đòi tôi những giấy tờ này. Trong khi MobiFone bán hàng cũng không đưa ra hay nhắc đến hợp đồng mua bán với đại lý. 

Hành xử của MobiFone là cố tính chiếm đoạt tài sản của khách hàng. 

Tôi kính mong Bộ thông tin và truyền thông vào cuộc để trả lại sự công bằng cho khách hàng. 

Cụ thể các số sim nguyên kit bị thu hồi như sau:

936804646 seri 6343 <---------------------> 936956060 seri 9587

904309393 seri 7490 <---------------------> 936670808 seri 9933

901564564 seri 2646 <---------------------> 936593737 seri 9575

901566922 seri 0138 <---------------------> 904353354 seri 2485

904420425 seri 8308 <---------------------> 936806464 seri 2340

936647646 seri 3887 <---------------------> 936742020 seri 2337

902061066 seri 2398 <---------------------> 936975050 seri 9577

936567797 seri 6031 <---------------------> 931561717 seri 9581

934247947 seri 2581 <---------------------> 936744343 seri 9582

902051059 seri 9664 <---------------------> 931579494 seri 9584

934398397 seri 6454 <---------------------> 904000677 seri 2114

934200577 seri 2924 <---------------------> 936833937 seri 0198

904199544 seri 7366 <---------------------> 904255595 seri 3869

906000244 seri 6038 <---------------------> 936909295 seri 3963

906011822 seri 7367 <---------------------> 936616569 seri 3965

936630637 seri 6840 <---------------------> 901525859 seri 3899

936977844 seri 8569 <---------------------> 901535859 seri 3894

906090290 seri 2601 <---------------------> 904035050 seri 9580

901579578 seri 9600 <---------------------> 936504242 seri 2338

902015050 seri 2602 <---------------------> 936673535 seri 7329

904178478 seri 8493 <---------------------> 936808489 seri 3803

936616769 seri 3852 <---------------------> 904076060 seri 9576

904287788 seri 7487 <---------------------> 904284477 seri 9070

936646569 seri 3960 <---------------------> 904498398 seri 7467

936929597 seri 3964 <---------------------> 904176000 seri 9934

936626769 seri 3933 <---------------------> 934383737 seri 5786

904303439 seri 3942 <---------------------> 936909698 seri 3962

901505259 seri 3882 <---------------------> 936512020 seri 2339

936919598 seri 3836 <---------------------> 901582525 seri 9585

936804646 seri 6343 <---------------------> 936956060 seri 9587

904309393 seri 7490 <---------------------> 936670808 seri 9933

- 21 giờ trước
Trả lời:

Sau khi nghiên cứu, xem xét nội dung câu hỏi của bạn, Cục Viễn thông - Bộ TT&TT có ý kiến trả lời như sau:

Theo quy định của Khoản 1 Điều 15 Nghị định số 49/2017/NĐ-CP để được cung cấp SIM thuê bao di động, người sử dụng phải thực hiện việc giao kết hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với doanh nghiệp viễn thông tại các điểm cung cấp dịch vụ viễn thông do doanh nghiệp viễn thông thiết lập hoặc do doanh nghiệp được doanh nghiệp viễn thông ủy quyền. Do vậy, việc Độc giả mua SIM qua mạng xã hội (Zalo, Facebook) là chưa tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật.
 
Trong trường hợp phát sinh tranh chấp trong quá trình mua bán, sử dụng các SIM này, đề nghị Độc giả liên hệ với bên bán và các bên cùng làm việc với doanh nghiệp viễn thông để giải quyết theo quy định của pháp luật (Luật Dân sự, Luật thương mại).