Cơ cấu lao động có việc làm chia theo trình độ qua đào tạo nghề (CMKT) 

 

Ở Việt Nam hiện nay đang có 2 cách tính khác nhau về chỉ tiêu lao động qua đào tạo nghề. Theo cách tổng hợp của Bộ LĐTBXH thì lao động qua đào tạo nghề gồm cả dạy nghề chính quy và thường xuyên, bao gồm cả dạy nghề dưới 3 tháng và dạy nghề tại doanh nghiệp. Theo cách tính của Tổng cục Thống kê chỉ thống kê dạy nghề chính quy ở các trình độ SCN, TCN, CĐN, mà không thống kê dạy nghề thường xuyên và dạy nghề dưới 3 tháng. 

Theo cách tính của Tổng cục Thống kê, lao động qua đào tạo (còn gọi là lao động có CMKT) nói chung của Việt Nam năm 2010 rất thấp (15,5%, tương đương 7.888 nghìn người, trong tổng số 51.326 nghìn người thuộc LLLĐ), trong đó lao động qua đào tạo nghề là 3,94%. Nhưng theo cách tính của Bộ LĐTBXH, số lao động qua đào tạo nghề chiếm 32% tổng LLLĐ. 
  
Hình 3: LLLĐ từ 15 tuổi trở lên chia theo thành thị/nông thôn và trình độ CMKT
 
 image005.jpg
 
Nguồn: Điều tra Lao động - Việc làm 6 tháng đầu năm 2011, Tổng cục Thống kê
 
Sự chênh lệch về trình độ CMKT giữa nam và nữ là không đáng kể, tuy nhiên sự chênh lệch này lại là khá lớn giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn. Nếu như ở khu vực thành thị, LLLĐ chưa qua đào tạo là 68,9% thì con số này ở khu vực nông thôn là 90,7%.
 
Tính đến thời điểm 1/7/2011, LLLĐ trong độ tuổi lao động của Việt Nam là 46.457 nghìn người, chiếm 90,5% LLLĐ từ 15 tuổi trở lên. Tương tự như LLLĐ nói chung, không có sự chênh lệch về trình độ CMKT trong LLLĐ trong tuổi giữa nam và nữ, nhưng có sự chênh lệch khá lớn giữa thành thị và nông thôn (Xem phụ lục 2).
 
Lao động có việc làm:
Lao động có việc làm là những người từ 15 tuổi trở lên trong LLLĐ đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân.
Tính đến thời điểm 1/7/2011, có 50.380 nghìn người có việc làm, trong đó, lao động nam chiếm 52%. Tỷ lệ này giữa nam - nữ ở hai khu vực và các vùng là khá cân bằng, trừ Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Cửu Long có sự chênh lệch giữa nam và nữ tới 10 điểm phần trăm. Lao động có việc làm ở khu vực nông thôn chiếm 71,8% (Xem phụ lục 3). Lao động ba vùng là Đồng Bằng Sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải Miền Trung, Đồng Bằng Sông Cửu Long chiếm 63,8% số lao động đang có việc làm; trong khi vùng Tây Nguyên chỉ chiếm 6,0%.
 
Hình 4: Tỷ số lao động có việc làm trên dân số từ 15 tuổi trở lên (%)

image007.jpg  

Nguồn: Báo cáo Điều tra Lao động - Việc làm 6 tháng đầu năm 2011, Tổng cục Thống kê
 
Tỷ số lao động có việc làm trên dân số từ 15 tuổi trở lên.
Tỷ số lao động có việc làm trên dân số từ 15 tuổi trở lên tính đến thời điểm 1/7/2011 là 75,1%, và tỷ số này có sự chênh lệch đáng kể giữa nam - nữ (80,1% - 70,4%), giữa thành thị - nông thôn (67,0% - 78,8%). Trung du miền núi phía Bắc (83,6%) và Tây Nguyên (82,4%) là hai vùng có tỷ số cao nhất, và thấp nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng (74,2%).
 
Lao động có việc làm theo trình độ CMKT
Theo Tổng cục Thống kê, trong tổng số 50.380 nghìn lao động có việc làm, có 15,3% người đã qua đào tạo và có sự chênh lệch đáng kể giữa khu vực thành thị và nông thôn. Số người đã qua đào tạo ở khu vực thành thị cao gấp hơn ba lần khu vực nông thôn (31,2% và 9,1%).
 
Bảng 3: Cơ cấu lao động có việc làm chia theo trình độ CMKT

 
 
Chia theo trình đô CMKT
 
Tổng số
Không có
cmKt
Dạy nghề
(SCN
TCN,
N)
Trung cấp chuyên nghiệp
Cao đẳng
Đại học trở lên
Không
xác
định
Cả nước
100,0
84,7
3,7
3,7
1,7
6,1
0,12
Nam
100,0
83,0
5,6
3,3
1,2
6,7
0,11
Nữ
100,0
86,4
1,7
4,0
2,3
5,4
0,13
Thành thị
100,0
68,8
6,5
6,0
2,9
15,8
0,08
Nam
100,0
66,4
9,3
5,0
2,1
17,2
0,06
Nữ
100,0
71,5
3,4
7,0
3,7
14,2
0,10
Nông thôn
100,0
90,9
2,7
2,8
1,3
2,3
0,14
Nam
100,0
89,6
4,2
2,7
0,8
2,6
0,14
Nữ
100,0
92,3
1,0
2,8
1,7
2,0
0,15

 Nguồn: Báo cáo Điều tra Lao động - Việc làm 6 tháng đầu năm 2011, Tổng cục Thống kê

Mặc dù số lao động có xu hướng tăng lên, nhưng lao động qua đào tạo nghề chỉ chiếm 3,7% trong tổng lao động có việc làm, điều này cho thấy một bộ phận lao động sau khi học nghề xong đã chuyển sang học ở các cấp có trình độ cao hơn.