Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ năm, ngày 22/08/2019

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Tiếp Duy Hào - Phan Thiết, Bình Thuận
duyhaotiep@gmail.com

Thời gian đã 1 năm qua, một tựa game được sáng lập bởi Phạm Vĩnh Lộc, và Phương Thảo, đó là Sử Hộ Vương đã gây quỹ, nhận được hàng chục triệu đồng, và đi đến in ấn, phát hàng bán vài ngàn bộ.

Điều đáng nói là trò chơi này xuyên tạc lịch sử, với tiêu chí ban đầu theo như nhóm sáng lập là giúp giới trẻ tiếp cận sử Việt, nhưng với tạo hình phản cảm, nội dung xuyên tạc đến mức bị cộng đồng lên án thì nhóm này lại biện hộ rằng chỉ dựa trên lịch sử và các nhân vật là giả tưởng (nhưng tên là thật như Lý Thường Kiệt, Nguyễn Ánh, Nguyện Huệ, Hồ Xuân Hương,...).

Như vậy họ kinh doanh trên lịch sử và bôi nhọ một cách có chủ đích lịch sử, nhưng vẫn không có một cơ quan chức năng nào vào cuộc ngoài báo chí? Vậy trách nhiệm của cục là gì? Và ai đã cấp phép cho trò chơi này lưu thông? Cục sẽ có trách nhiệm như thế nào?
 

- 2 ngày trước
Trả lời:
Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử có ý kiến trả lời như sau:
 
Đúng như nội dung độc giả Tiếp Duy Hào phản ánh, trò chơi Sử Hộ Vương có nội dung xuyên tạc lịch sử; tạo hình các nhân vật trong Sử Hộ Vương không phù hợp, có thể gây sai lệch về hình tượng các nhân vật lịch sử.
 
Qua tìm hiểu, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử được biết Sử Hộ Vương là trò chơi thẻ bài do ông Phạm Vĩnh Lộc và bà Hồ Phương Thảo (địa chỉ thường trú tại thành phố Hồ Chí Minh) đồng xây dựng, chủ sở hữu đã được in ấn, phát hành thông qua các đại lý tại 5 thành phố lớn là Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Hải Phòng. Tuy nhiên, trò chơi cũng đang được giới thiệu tải về trên kho ứng dụng Google Play Store của Google.
 
Việc trò chơi Sử Hộ Vương vừa được phát hành bằng thẻ giấy lại vừa được tích hợp trên kho ứng dụng Google Play Store là vấn đề mới phát sinh, cần tìm hiểu thêm để làm rõ về cách thức chơi và phạm vi cung cấp của trò chơi này (chỉ là thẻ bài hay được tích hợp để chơi trên mạng). Vì vậy, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đang phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông thành phố Hồ Chí Minh để tìm hiểu loại hình hoạt động sản phẩm này, đồng thời có khuyến cáo về những nội dung không phù hợp trong trò chơi.
Độc giả: Nguyễn Tiến Quang - Thụy Khuê, Tây Hồ, Hà Nội
Thienquang.hn@gmail.com
Kính gửi Quý cơ quan,
 
1. Theo Luật An Toàn Thông tin mạng 2015 thì các doanh nghiệp kinh doanh các sản phẩm an toàn thông tin mạng đều phải xin giấy phép kinh doanh ATTT. Tuy nhiên nghị định 108/2016/CP-NĐ thì đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp hoạt động trực tiếp hoặc liên quan đến xản xuất, nhập khẩu, dịch vụ ATTT. Công ty chúng tôi là công ty cung cấp sản phẩm, dịch vụ CNTT, nếu công ty chúng tôi mua lại các thiết bị phòng chống tấn công (firewall, WAP, ...) của các hãng trên thế giới (cisco, checkpoint, paloalto...) qua các nhà phân phối và bán cho các doanh nghiệp sử dụng cuối (kể cả nhà nước và tư nhân), công ty chúng tôi không tham gia trực tiếp vào việc nhập khẩu, vậy công ty chúng tôi có bắt buộc phải có giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ATTT không?
 
2. Nếu chúng tôi bán dịch vụ cài đặt các sản phẩm trên thì có phải có giấy phép kinh doanh dịch vụ ATTT hay không?
 
3. Một số chủ đầu tư yêu cầu nhà thầu tham gia đấu thầu cung cấp các sản phẩm như firewall phải có giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ ATTT có đúng theo quy định không?
 
Trân trọng cảm ơn!
- 3 ngày trước
Trả lời:
Cục An toàn thông tin trả lời như sau:
 
1. Theo quy định tại Điều 2 Nghị định 108/2016/NĐ-CP, doanh nghiệp kinh doanh cáchoạt động sản xuất, nhập khẩu sản phẩm an toàn thông tin mạng và cung cấp dịch vụ an toàn thông tin mạng tại Việt Nam cần có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng. Trường hợp doanh nghiệp phân phối, bán lại các sản phẩm an toàn thông tin mạng do các doanh nghiệp đã được cấp phép sản xuất, nhập khẩu thì không yêu cầu có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng.
 
2. Các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ an toàn thông tin mạng như xác định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định 108/2016/NĐ-CP mới yêu cầu phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng. Đối với các dịch vụ thuần tuý là cài đặt, cập nhật phần mềm cho các sản phẩm thì không yêu phải có Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng.
 
3. Nghị định số 108/2016/NĐ-CP chỉ quản lý các hoạt động nhập khẩu, sản xuất sản phẩm an toàn thông tin mạng và cung cung cấp dịch vụ an toàn thông tin mạng tại Việt Nam.Trong trường hợp sản phẩm được cung cấp bởi doanh nghiệp đã được cấp phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng, khi Quý Công ty phân phối, sử dụng trong các hoạt động khác ở Việt Nam là không yêu cầu Giấy phép kinh doanh sản phẩm, dịch vụ an toàn thông tin mạng.

 

Độc giả: Huỳnh Chí Công - 466/4 Lê Quang Định, P.11, Q. Bình Thạnh, HCM
cong.huynh@vietducautomation.com.vn

 Em có một số thắc mắc liên quan đến việc sử dụng RFID tại Việt Nam, nhờ các anh chị tư vấn giúp:
 
1/ Hai băng tần sau của thiết bị RFID có được phép dùng tại Việt Nam và được miễn giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện hay không ?
·         Băng tần 13,553 ÷ 13,567 MHz           (≤ 4,5 mW ERP, Theo giới hạn phát xạ giả 1, Tần số trung tâm là 13,56 MHz)
·         Băng tần 918 ÷ 923 MHz                     (≤ 500 mW ERP, Theo giới hạn phát xạ giả 2)
 
2/ Thiết bị RFID có băng tần 13,553 ÷ 13,567 MHz hoặc 918 ÷ 923 MHz có bắt buộc phải làm chứng nhận hợp quy và công bố hợp quy hay không ?
 
3/ Nếu băng tần 918 ÷ 923 MHz của thiết bị RFID được phép dùng tại Việt Nam thì vì sao trong thông tư 46 /2016/TT-BTTTT lại có nêu “Đoạn băng tần 918-918,4 MHz được sử dụng làm băng tần bảo vệ hệ thống thông tin vô tuyến điện sử dụng băng tần liền kề. Tổ chức, cá nhân có liên quan không cài đặt thiết bị hoạt động ở đoạn băng tần này” ? Nếu vậy băng tần của thiết bị RFID thực tế cho phép hoạt động có phải là 918,5 ÷ 923 hay không ?
 
Em đã tham khảo các thông tư 46/2016/TT-BTTTT, 04/2018/TT-BTTTT và 18/2018/TT-BTTTT nhưng chưa tìm ra được câu trả lời.
 
Với mong muốn tìm ra thiết bị RFID phù hợp có thể dùng tại Việt Nam đúng quy cách. Kính mong quý anh chị tư vấn thêm và giải đáp giúp các thắc mắc trên.
 
Xin cảm ơn quý anh chị rất nhiều!


 

- 8 ngày trước
Trả lời:
Cục Tần số vô tuyến điện có ý kiến trả lời như sau:
 
1- Thông tư số 46/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 và Thông tư số 18/2018/TT-BTTTT ngày 20/12/2018 của Bộ Thông tin và Truyền thông về quy định danh mục thiết bị vô tuyến điện được miễn giấy phép sử dụng tần số vô tuyến điện, điều kiện kỹ thuật và khai thác kèm theo, có quy định sử dụng băng tần 13,553 ÷ 13,567 MHz, 918 ÷ 923 MHz cho thiết bị nhận dạng vô tuyến điện (RFID). Thiết bị RFID hoạt động tại băng tần 13,553 ÷ 13,567 MHz, 918 ÷ 923 MHz đáp ứng điều kiện kỹ thuật và khai thác quy định tại Thông tư nêu trên sẽ được sử dụng tại Việt Nam và không cần giấy phép sử dụng tần số.
 
3- Đối với việc sử dụng băng tần 918 ÷ 923 MHz cho thiết bị RFID, Phụ lục 6 của Thông tư số 46/2016/TT-BTTTT ngày 26/12/2016 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định tổ chức, cá nhân không cài đặt thiết bị RFID hoạt động ở băng tần 918 ÷ 918,4 MHz (nhằm tránh gây nhiễu có hại tới các hệ thống vô tuyến điện ở băng tần liền kề). Do vậy, băng tần hoạt động của thiết bị RFID phải bảo đảm nằm trong phạm vi từ 918,4 MHz đến 923 MHz.
Độc giả: Phạm Huy Sang - Bà Rịa - Vũng Tàu
sang.huypham@gmail.com

Theo Quyết định 2378/BTTTT, tôi xin phép hỏi: " Khi nào thực hiện lập báo cáo kinh tế kỹ thuật? (áp dụng cho những trường hợp nào?)" và  "Văn bản hướng dẫn lập báo cáo kinh tế kỹ thuật?"

- 13 ngày trước
Trả lời:
Ghi nhận ý kiến của bạn đọc, Cục Tin học hóa, Bộ Thông tin và Truyền thông có ý kiến trả lời như sau:
 
1. Khi nào thực hiện lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật:
 
Ngày 31/12/2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 136/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư công (Nghị định 136/2015/NĐ-CP), có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/02/2016, các quy định trước đây trái với quy định tại Nghị định này đều bị bãi bỏ, nên các quy định tại Nghị định số 102/2009/NĐ-CP ngày 06/11/2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tiin sử dụng nguồn vốn NSNN (Nghị định số 102/2009/NĐ-CP) mà trái với Nghị định số 136/2015/NĐ-CP đều bị bãi bỏ.
 
Do đó, theo quy định tại Điều 46 Nghị định số 136/2015/NĐ-CP thì dự án nhóm C quy mô nhỏ có tổng mức đầu tư dưới 15 tỷ đồng áp dụng thiết kế 1 bước là thiết kế bản vẽ thi công trong Báo cáo kinh tế kỹ thuật.
 
2. Văn bản hướng dẫn lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật.
 
Hiện nay, chưa có văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn NSNN. Bộ Thông tin và Truyền thông đang trình ban hành Nghị định sửa đổi Nghị định 102/2009/NĐ-CP, trong Nghị định sửa đổi này sẽ hướng dẫn cụ thể về lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật, những trường hợp được áp dụng lập Báo cáo kinh tế kỹ thuật.
Độc giả: Hà Linh - Ngõ 103, Pháo Đài Láng, Láng Thượng, Đống Đa, Hà Nội
Halinh.got@gmail.com
 Kính gửi Bộ Thông tin và Truyền thông, 
 
Tôi có câu hỏi sau cần tham khảo ý kiến của Bộ: theo Điều 11-Nghị định 60/2014/NĐ-CP quy định về hoạt động in, một trong những điều kiện để hoạt động của cơ sở in là "có chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam" nhưng đây là điều kiện áp dụng với các cơ sở in có sản phẩm là " báo, tạp chí, các ấn phẩm báo chí; mẫu, biểu mẫu giấy tờ do cơ quan nhà nước ban hành; tem chống giả,; hóa đơn tài chính, các loại thẻ, giấy tờ có sẵn mệnh giá " . Vậy, nếu cơ sở in chỉ thực hiện hoạt động photocopy các giấy tờ, tài liệu thì không nhất thiết phải có chủ sở hữu là cá nhân, tổ chức Việt Nam phải không? Hay nói cách khác, nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư thành lập công ty kinh doanh dịch vụ photocopy phải không?
 
Rất mong nhận được câu trả lời.
 
Chân thành cảm ơn !
- 14 ngày trước
Trả lời:
Cục Xuất bản, In và Phát hành có ý kiến trả lời như sau:
 
Theo quy định tại Nghị định số 60/2014/NĐ-CP ngày 19/6/2014, Nghị định số 25/2018/NĐ-CP ngày 28/02/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 60/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về hoạt động in thì việc thành lập và hoạt động của cơ sở in, cơ sở dịch vụ photocopy là không hạn chế đối với nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, cơ sở muốn sản xuất sản phẩm in là xuất bản phẩm (Nghị định số 195/2013-NĐ-CP), báo chí, tem chống giả (Nghị định số 25/2018/NĐ-CP) thì cơ sở phải có chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân Việt Nam.
Độc giả: Vũ Tuấn Linh - Quế Võ, Bắc Ninh
Vutuanlinhbn@gmail.com

Hiện nay Chính phủ đã đẩy mạnh việc sử dụng chữ ký số. Đứng dưới góc độ là người dân, đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông làm rõ vấn đề sau:

- Tại sao chính quyền không cấp các giấy tờ cho công dân dưới dạng điện tử đã được ký số mà vẫn cấp dưới dạng bản in và ký đóng dấu đỏ?

- Những giấy tờ cấp cho công dân đã được ký số thì có giá trị pháp lý như văn bản giấy không? Nếu có Chính phủ cần hướng dẫn và phổ biến người dân và doanh nghiệp biết để thay đổi các quy trình nội bộ của họ.

- 15 ngày trước
Trả lời:

Trung tâm Chứng thực điện tử Quốc gia có ý kiến như sau:

Ngày 27/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 130/2018/NĐ-CP, theo đó, giá trị pháp lý của chữ ký số đã được khẳng định theo quy định tại Điều 8 của Nghị định.
 
1. Việc cấp giấy tờ cho công dân dưới dạng điện tử đã được ký số tuân theo quy định của pháp luật chuyên ngành tùy thuộc vào từng ngành và lĩnh vực cụ thể. Hiện nay, Chính phủ đang thúc đẩy ứng dụng chữ ký số thông qua ban hành quy định trong các văn bản chuyên ngành.
 
2. Những giấy tờ điện tử được ký bởi chữ ký số tuân theo quy định tại Điều 8 Nghị định số 130/NĐ-CP có giá trị pháp lý như văn bản giấy. Hiện nay, Bộ Thông tin và Truyền thông đang đẩy mạnh triển khai các hoạt động thúc đẩy ứng dụng chữ ký số trong hoạt động của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, xã hội.